Chương 1: Con nhỏ bốn mắt
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Mùa hè năm 1998, tôi mười hai tuổi và là đứa nói phét giỏi nhất xóm Thanh Nhứt, xã Cẩm Thanh. Tôi từng kể với cả xóm rằng tôi bơi qua sông Thu Bồn một hơi không nghỉ. Tôi kể tôi thấy cá ông dài bằng ba chiếc ghe, kể ba tôi từng đan thúng cho vua Bảo Đại. Không ai tin, nhưng ai cũng nghe tới cuối. Người ta gọi tôi là thằng Lộc phét, và tôi coi đó là một cái danh hiệu.
Ba tôi thì không phét. Ông đan thúng chai dưới rặng dừa nước sau nhà từ sáng tới tối, nan tre chẻ ra xếp thành đống cao hơn đầu tôi. Một chiếc thúng đan xong phải trét chai mới xuống nước được. Ba nấu dầu rái trong cái nồi gang đen sì, trộn với phân trâu khô giã nhỏ, rồi lấy giẻ quệt kín từng kẽ nan. Mùi dầu rái hắc như nhựa đường, mùi phân trâu thì khỏi nói, nhưng thúng trét kiểu đó đi biển mười năm không thấm.
"Mi coi cho kỹ, mai mốt ba già thì còn có nghề mà ăn," ba nói, tay không ngừng quệt.
"Con làm nhà văn," tôi nói.
"Nhà văn mà thúng thủng giữa biển thì văn chi cũng chìm. Lại đây."
Ba bắt tôi trét thử một chỗ. Ông dạy phải hơ dầu cho nóng chảy, trộn phân trâu theo tỷ lệ một phần phân hai phần dầu, miết bằng ngón cái cho tới khi mặt chai bóng lên như da ếch. Chỗ thủng to thì lót một miếng vải trước, trét chai lên trên, hơ lửa cho se mặt. Mỗi chiếc thúng ba bán ra đều có một bịch nhỏ cột dưới tấm ván ngồi, trong đựng một cục chai trộn sẵn với mấy miếng giẻ. Ông gọi đó là bịch cứu mạng.
Khách mua thúng ai cũng cười cái bịch đó. Ba nói cười thì cứ cười, bịch thì cứ phải cột.
Bạn thân của tôi là thằng Tý, con chú Bảy làm nghề chài lưới ở bến Cửa Đại. Tý ít nói tới mức có lần cô giáo tưởng nó bị câm. Nó đen nhẻm, gầy nhom, nhưng bơi như con rái cá, lặn một hơi xuống đáy sông nhặt được đồng xu tôi ném. Thứ duy nhất làm nó mở miệng là cái tù và vỏ ốc ông nội nó để lại. Cái vỏ ốc to bằng hai nắm tay, màu cam nhạt, đầu nhọn khoan một lỗ tròn.
Chiều chiều Tý đứng ở mũi bến thổi lên một hồi dài, để ghe chú Bảy ngoài khơi biết đường mà vô. Tiếng tù và trầm và xa, nghe như có con bò rất lớn đang gọi bạn ở bên kia sông.
"Thổi răng mà kêu to rứa?" tôi hỏi nó lần đầu.
"Thổi bằng bụng. Không bằng miệng."
Đó là câu dài nhất nó nói trong tuần. Tôi giành lấy thổi thử thì cái tù và chỉ kêu được một tiếng như con heo bị nghẹt mũi. Tý nhìn tôi, không cười, nhưng hai vai nó rung rung.
Đầu tháng Sáu dương lịch năm đó, xóm tôi có người mới. Đó là cháu ngoại ông Chín, một ngư dân già ở cuối xóm, nhà sát mé nước. Ông Chín có chiếc ghe gỗ tên Liên Hương, sơn xanh đã tróc, mắt ghe vẽ đỏ. Ông sống một mình từ hồi bà ngoại mất, nghe nói đã năm năm. Bữa đó tôi với Tý đang tắm sông thì thấy một chiếc xe lam từ phố chạy về, đậu đầu ngõ.
Một con nhỏ bước xuống, ôm một chồng sách cao tới cằm. Nó đeo kính cận gọng nhựa đỏ, tóc cắt ngắn ngang tai, mặc áo thun trắng in hình con mèo. Nó đứng nhìn con đường đất, nhìn đống phân bò, nhìn hai thằng ở trần dưới sông, rồi chun mũi lại. Ông Chín lật đật ra xách giỏ cho nó. Tôi nghe nó nói một câu, giọng Đà Nẵng nhanh và gọn.
"Ở đây không có tiệm sách hả ngoại?"
Tôi trồi lên khỏi mặt nước, lấy hết sức ra nói to: "Có! Tiệm sách lớn nhứt Quảng Nam! Ngay sau nhà tau!"
Con nhỏ quay lại, đẩy gọng kính lên sống mũi, nhìn tôi một lượt từ cái đầu ướt tới chỗ mặt nước.
"Sau nhà mày là rặng dừa nước. Tao thấy từ ngoài đường rồi."
Tý lặn xuống luôn, không trồi lên nữa. Tôi biết nó đang cười dưới đó, vì bong bóng nổi lên lục bục cả một khoảng.
Chiều đó cả xóm biết con nhỏ tên Minh Thư, mười hai tuổi, ba má ở Đà Nẵng có chuyện gì đó nên gửi nó về ở với ông ngoại cả mùa hè. Mấy bà ngoài chợ nói nhỏ với nhau hai chữ "bỏ nhau", rồi im bặt khi thấy tôi đi ngang. Tôi không quan tâm chuyện người lớn. Tôi chỉ quan tâm là trong xóm có đứa dám bắt bẻ tôi trước mặt thằng Tý.
Mấy ngày sau, chiều nào Thư cũng ngồi đọc sách trên mũi ghe ông Chín. Nó đọc những cuốn dày cộp, bìa cứng, có cuốn vẽ toàn chấm trắng trên nền đen như ai vẩy vôi lên tấm bảng. Có lần tôi đi ngang, cố tình nói to với Tý rằng sách vở chỉ dành cho đứa không biết bơi. Thư không ngẩng lên.
"Đứa biết bơi mà không biết đọc thì bơi tới đâu cũng lạc," nó nói, lật một trang. "Nhà quê."
Tôi tức tới mức về nhà ăn hết bốn chén cơm mới nguôi. Má tôi tưởng tôi bệnh.
Tối hôm đó, ba tôi đi uống nước ở quán bà Hường về muộn. Ông ngồi xuống bậc thềm, vấn điếu thuốc rê, nói với má tôi bằng cái giọng ông chỉ dùng khi có chuyện buồn. Tiếng ếch nhái ngoài ruộng kêu râm ran, ông phải nói hai lần má mới nghe rõ.
"Ghe ông Chín chắc phải bán rồi bà. Qua rằm tháng Sáu là bà Tám vựa cá tới lấy."
Má tôi đặt cái rổ khoai xuống. Tôi nằm trong mùng, nín thở nghe tiếp, mà ba không nói thêm câu nào nữa. Chỉ có đốm lửa đầu điếu thuốc của ông cứ đỏ lên rồi mờ đi ngoài hiên, rất lâu.