Chương 2: Chiếc la bàn đồng
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Chuyện ghe ông Chín, tôi moi được từ má sau ba ngày hỏi dai. Cuối năm ngoái có cơn bão lớn vô Quảng Nam, ghe Liên Hương nằm ở bến bị sóng đánh hỏng máy. Ông Chín vay bà Tám chủ vựa cá bốn triệu tám trăm ngàn để thay cái máy cũ. Giấy nợ ghi rõ, qua rằm tháng Sáu âm lịch mà không trả đủ thì ghe về tay bà Tám. Ông đi biển cả mùa xuân, cá thì ít, dầu thì lên giá, trả được tiền lãi là may.
"Bốn triệu tám là bao nhiêu hả má?" tôi hỏi.
"Là ba tau đan một trăm cái thúng mà không ăn không uống."
Tôi ngồi đếm trên đầu ngón tay một hồi rồi bỏ cuộc. Một trăm cái thúng là nhiều hơn số thúng tôi từng thấy trong đời.
Chiều hôm sau, tôi với Tý chèo chiếc thúng nhỏ của ba ra giữa sông thả câu. Nước Thu Bồn đoạn chảy qua rặng dừa nước xanh đục, phẳng lì. Thư ngồi trên mũi ghe ông Chín đọc sách như mọi bữa. Tôi cố ý chèo sát vô mạn ghe, khua nước cho văng lên mấy giọt.
"Coi chừng ướt sách của tiểu thư," tôi nói.
Thư lau mắt kính vào vạt áo, không thèm nhìn tôi. Trên cổ nó đeo một sợi dây dù, đầu dây là một cái hộp tròn bằng đồng vàng, cỡ cái nắp chai nước mắm. Nó bật nắp hộp ra, xoay xoay trong lòng bàn tay.
"Cái chi rứa?" Tý hỏi. Tôi trợn mắt nhìn nó, vì nó tự mở miệng hỏi con nhỏ.
"La bàn. Ngoại tao cho hồi sinh nhật." Thư chìa ra cho Tý coi, không chìa cho tôi. "Kim màu đỏ chỉ hướng bắc. Biết hướng bắc là biết hết mấy hướng kia."
Tôi rướn cổ nhìn qua vai Tý. Mặt la bàn có bốn chữ cái nhỏ xíu, cái kim mảnh như sợi tóc run run rồi đứng yên, chỉ thẳng vô rặng dừa nước. Ông Chín ngồi vá lưới dưới mái tôn nghe tụi tôi nói chuyện, cười khà một tiếng.
"Cái nớ ông mua ngoài chợ Hàn hồi trước giải phóng đó con. Đi biển ba chục năm, ông nhìn sao chớ có nhìn nó mô."
"Thì để con nhìn," Thư nói.
Tôi tưởng chuyện la bàn tới đó là xong. Nhưng tối đó, Tý mang cái đài của chú Bảy ra bến, cái đài cũ hiệu Nhật vỏ nhựa đen, ăn bốn cục pin to, ba tôi gọi là đài cục gạch. Chú Bảy dặn Tý mở nghe bản tin thời tiết lúc tám giờ để báo cho chú. Thư thấy cái đài thì đi lại, ngồi xuống cách tụi tôi một sải tay.
Bản tin vừa dứt, tôi vặn qua đài khác nghe cải lương. Thư đặt cái la bàn xuống tấm ván bến, ngay cạnh cái đài. Cái kim tự nhiên xoay một vòng rồi đứng lại chỉ vô tôi.
"Thấy chưa, la bàn cũng biết tau là trung tâm," tôi nói.
Thư nhíu mày, cầm la bàn nhấc lên coi rồi lại đặt xuống. Nó lẩm bẩm câu gì đó về sách, về sắt với nam châm, rồi tiếng cải lương nổi lên to quá, tôi không nghe rõ. Nó đeo la bàn lên cổ lại, không nói gì nữa.
Trăng đầu tháng lặn sớm. Trời xanh thẫm lại, sao lên dày như ai rắc muối. Thư ngả người ra sau, chống hai tay xuống ván, chỉ lên phía trên rặng dừa.
"Tụi mày thấy bảy ngôi sao xếp hình cái gáo múc nước không? Đó là sao Bắc Đẩu."
Tôi nhìn theo. Thấy một đống sao.
"Nối hai ngôi sao ở đầu cái gáo, kéo dài ra gấp năm lần thì tới một ngôi sao đứng một mình, không sáng lắm. Đó là sao Bắc Cực. Nó đứng yên, mấy ngôi khác quay quanh nó. Đứng ngó thẳng vô nó thì sau lưng là hướng nam, tay phải là hướng đông."
"Ba tau đi biển cả đời, có cần sách mô," tôi nói.
"Ba mày không cần vì ba mày biết rồi. Mày thì chưa biết."
Tôi cứng họng. Tý không cười thành tiếng nhưng tôi nghe được cái hơi thở phì ra qua mũi nó. Rồi nó làm một chuyện tôi không ngờ. Nó nghiêng người qua, chỉ tay lên trời, hỏi Thư ngôi nào là ngôi đứng một mình. Thư chỉ cho nó. Tý gật đầu, lẩm nhẩm cái gì đó như học bài.
Cuối buổi, ghe chú Bảy về muộn. Tý đứng lên mép bến, đưa cái tù và lên miệng. Nó hít một hơi dài, bụng thót lại, thổi. Tiếng tù và chạy dọc mặt sông, tới tận cửa biển rồi như dội lại. Một lát sau, ngoài xa có tiếng máy ghe nổ lạch xạch đáp lời, một đốm đèn từ từ quẹo vô.
Thư nhìn Tý, mắt mở to sau cặp kính. Lần đầu tiên tôi thấy nó không có gì để bắt bẻ.
"Thổi lại được không?" nó hỏi.
"Ghe vô rồi," Tý nói. "Thổi nữa ba tau tưởng có chuyện."
Thư gật gù như vừa học được một điều quan trọng. Tôi bỗng thấy hơi tức. Tôi chỉ biết nói phét, còn thằng Tý biết gọi được cả một chiếc ghe từ ngoài biển về.
Trên đường về, ngang qua nhà ông Chín, tôi nghe giọng Thư ở sau hè. Giọng nó nhỏ, hơi nghẹt, không còn gọn như hồi chiều.
"Ngoại bán ghe rồi ngoại đi biển bằng chi?"
"Ngoại già rồi con. Đi biển chi nữa."
"Ngoại xạo. Sáng nào ngoại cũng ra ngồi trên ghe."
Ông Chín không trả lời. Tôi đứng nép sau bụi chuối, thấy làm vậy là xấu nhưng chân không chịu đi. Một lúc sau Thư chạy vô nhà, cửa liếp đóng cái cạch.
Tôi định về thì thấy ông Chín đi ra bến, leo lên ghe Liên Hương. Ông thắp cây đèn bão treo ở mũi ghe, ngồi xếp bằng, mở một cái hộp thiếc vuông màu xanh, loại hộp bánh quy người ta biếu nhau dịp Tết. Ông lấy ra một tờ giấy gấp làm tư, trải lên đùi, cúi xuống nhìn rất lâu.
Ánh đèn bão vàng vọt hắt lên mặt ông. Ông lấy ngón tay rà theo một đường gì đó trên tờ giấy, rồi dừng lại ở một chỗ. Ông cứ để ngón tay ở đó, không nhúc nhích, như người ta đặt tay lên vai một người quen.