Truyện Ma Có Thật
← Chiếc thúng chai ra Cù Lao

Chương 13: Chiếc ghe Liên Hương

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Sáng mười sáu tháng Sáu, bà Tám vựa cá tới nhà ông Chín từ sớm, đi theo có thằng cháu trai cầm sẵn sợi dây xích với ổ khóa. Bà mặc áo bà ba tím, đeo cái túi da đựng giấy tờ, mặt không vui cũng không buồn. Ông Chín ngồi ở bậc thềm, cái hộp thiếc xanh đặt trên đùi, tờ giấy nợ để trên nắp hộp.

Tôi với Thư đứng nép sau cây cột hiên. Tý chống cây nạng tre ba nó đẽo cho, đứng ở hàng rào. Không đứa nào dám nói một câu.

Bà Tám chưa kịp ngồi thì ngoài ngõ có tiếng người. Ba tôi đi đầu, tay xách cái bọc vải. Sau ba là chú Bảy, bà Hường quán nước, ông Ba Râu, ông Tư Lùn, rồi mấy chú trong xóm làm nghề lưới, nghề thúng, nghề đóng ghe. Cái sân đất nhỏ nhà ông Chín đông nghẹt người, đông như đám giỗ.

Ba tôi đặt cái bọc vải xuống chiếc chõng tre, mở ra. Bên trong là tiền, đủ loại, giấy năm trăm, giấy một ngàn, giấy năm ngàn, giấy mười ngàn, có tờ cũ nhàu như lá chuối khô. Ba nói ba bán ba cái thúng mới đan, chú Bảy góp tiền mẻ cá tuần rồi. Bà Hường góp nửa tháng tiền bán nước. Ông Ba Râu với ông Tư Lùn góp nhiều hơn ai hết, vì hai ông nói cái chuyện ổ tôm là do hai ông đồn ra, thiếu chút nữa mất ba đứa nhỏ.

"Người ta đếm rồi," ba tôi nói với bà Tám. "Ba triệu chín trăm. Còn thiếu chín trăm, ông Chín trả dần."

Bà Tám chưa kịp trả lời thì ngoài ngõ lại có tiếng xe máy. Anh Thành ở trạm biên phòng tới, mặc quân phục chỉnh tề, kẹp một cái phong bì dưới nách. Anh nói huyện có tiền thưởng cho người báo tin bắt được ghe xịt thuốc, ba đứa nhỏ mỗi đứa hai trăm ngàn, kèm giấy khen. Anh đưa phong bì cho Thư, vì Thư là đứa ghi số.

Thư cầm phong bì, nhìn qua tôi, nhìn qua Tý. Tý gật. Tôi gật. Thư đi tới chiếc chõng tre, đặt phong bì lên đống tiền.

Bà Tám ngồi xuống, đếm tiền lại từng xấp, lâu tới mức cả sân phải đứng im mà chờ. Đếm xong, bà cầm tờ giấy nợ trên nắp hộp thiếc, nhìn một hồi rồi xé làm đôi.

"Còn thiếu ba trăm," bà nói. "Thôi, phần lãi tui bỏ. Thằng con tui cũng đi biển, có bữa cũng nhờ người ta kéo vô." Bà quay qua thằng cháu. "Cất sợi xích đi mậy. Đứng đó làm chi."

Cả sân thở ra một hơi. Ông Chín không nói được câu nào. Ông đứng dậy, chắp tay vái bà Tám, vái cả sân, rồi quay vô nhà rất lâu mới trở ra, mắt đỏ hoe.

Chiều hôm đó, má của Thư từ Đà Nẵng về. Cô đi xe đò, tóc còn rối. Cô ôm Thư khóc một trận, rồi ngồi nghe ông Chín kể chuyện tấm bản đồ. Tới đoạn bông sen, cô bật cười giữa lúc khóc, y hệt cái kiểu của con nhỏ hôm ở bãi vắng. Cô nói cô quên mất lời hứa đó.

Cuối mùa hè, nhà ở Đà Nẵng bán xong. Má Thư về Hội An thuê một căn nhà nhỏ gần chợ, nhận may đồ cho khách. Thư vô học lớp Bảy ở trường cấp hai của xã, ngồi bàn đầu, ngay trước mặt tôi. Cả năm học, nó không gọi tôi là nhà quê lần nào trước mặt người khác. Chỉ khi nào ba đứa ngồi ở bến, nó mới nói, và lần nào nói cũng cười.

Bây giờ là năm thứ hai mươi tám kể từ mùa hè đó.

Thằng Tý giờ là chủ ghe Liên Hương. Ông Chín giao ghe cho nó năm nó hai mươi tuổi, nói trong làng không ai giữ ghe kỹ bằng nó. Ghe giờ đã thay máy mới, sơn lại màu xanh, nhưng cái mắt ghe vẫn vẽ đỏ như cũ. Tý vẫn ít nói. Chiều chiều nó vẫn thổi tù và ở mũi bến cho mấy ghe bạn biết đường vô.

Tôi theo nghề ba. Tôi đan thúng, trét chai, và chèo thúng chở khách du lịch đi quanh rặng dừa nước Bảy Mẫu. Khách Tây, khách ta ngồi trên thúng, tôi kể cho họ nghe chuyện ba tôi từng đan thúng cho vua Bảo Đại. Họ cười, họ cho thêm tiền.

Hóa ra nói phét cũng là một nghề thật. Thúng nào tôi bán ra cũng có một cái bịch cứu mạng cột dưới tấm ván ngồi. Khách nào cũng cười.

Thư đi học sư phạm ngoài Huế, rồi về dạy môn Địa lý ở một trường cấp hai trong phố Hội An. Nó vẫn đeo kính gọng đỏ, vẫn đọc sách dày cộp, vẫn chỉ cho học trò cách tìm sao Bắc Cực bằng cái gáo Bắc Đẩu. Cái la bàn đồng của ông ngoại nó đeo trên cổ, chưa bao giờ để gần cái loa nào.

Ông Chín năm nay chín mươi tuổi. Sáng nào ông cũng ra ngồi trên mũi ghe Liên Hương, uống một ly trà, nhìn ra cửa biển.

Rằm tháng Sáu năm nào, cả bọn tôi cũng ra vũng nước dưới tảng đá đầu rùa. Ông Chín ngồi mũi ghe, cầm một bông sen hái ở đầm làng. Tý cầm lái. Tôi với Thư ngồi trên chiếc thúng chai cột sau đuôi ghe, tới gần bãi thì tháo dây, tự chèo vô bờ. Đêm xuống, cả bọn lội xuống nước, khua tay cho biển sáng lên.

Năm ngoái, tôi mang theo một cây đục nhỏ. Tôi khắc thêm hai chữ cái mới vào tảng đá, ngay bên dưới hai chữ cũ của ông Chín. Một chữ L, một chữ T, ở giữa là một dấu cộng. Thư đứng sau lưng tôi soi đèn pin, chê tôi khắc xấu, chê chữ T nghiêng, rồi giành lấy cây đục khắc lại cái dấu cộng cho sâu thêm. Nó nói khắc vậy mới chắc.

Khuya, ngoài vũng có tiếng tù và vọng vô, dài và trầm. Tý gọi tụi tôi ra ghe để về. Thư đứng dậy, phủi cát, đưa tay ra kéo tôi.

"Đi thôi, nhà quê," nó nói.

Tôi nắm lấy tay nó. Hai đứa đẩy chiếc thúng chai xuống nước, mỗi lần mái chèo khua xuống là biển lại sáng lên một vệt xanh, dẫn đường cho tụi tôi ra tới chỗ chiếc ghe Liên Hương đang thắp đèn chờ.