Chương 12: Tảng đá đầu rùa
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Ông Chín không giải thích. Ông chỉ nói chiều rằm sẽ đưa tụi tôi đi coi, rồi xếp tờ giấy can vô túi áo, cẩn thận như xếp một tờ giấy bạc.
Hôm đó ba đứa được chở về Cẩm Thanh, bị mắng một trận ra trò. Má tôi khóc rồi mắng, mắng rồi khóc, rồi nấu cho tôi một nồi cháo cá. Tôi bị cấm ra khỏi nhà mười ngày. Tý nằm nhà uống thuốc, chân bó bột trắng phếu. Thư bị ông Chín bắt ngồi chép phạt một trăm lần câu "con không đi biển một mình", nhưng tôi biết ông không bao giờ đọc lại.
Chiều rằm tháng Sáu, ba tôi đích thân thả tôi ra. Ông nói ông Chín xin phép rồi. Ông còn nói thêm, mắt không nhìn tôi, rằng mai bà Tám tới lấy ghe, đây là chuyến cuối của Liên Hương.
Ghe ra khỏi cửa Đại khi mặt trời còn cao. Biển hôm đó lặng như mặt chiếu. Ông Chín cầm lái, Thư ngồi ở mũi, Tý ngồi trên khoang với cái chân bó bột gác lên thành ghe. Tôi ngồi cạnh Thư. Lần này mất đúng một tiếng, như thằng Tý đã nói từ đầu. Tôi nghĩ tới con số sáu tiếng của mình mà xấu hổ.
Ông Chín cho ghe vòng qua phía bắc Hòn Lao, men theo vách đá, rồi quẹo vô một vũng nhỏ. Ở đó có một bãi cát trắng, hẹp, hai đầu chặn bởi hai mỏm đá. Giữa bãi, một tảng đá lớn trồi lên khỏi cát, hình thù y như cái đầu con rùa đang ngóc lên nhìn biển.
Thư đứng bật dậy. "Ngoại. Tảng đá trong hình."
Ông Chín thả neo, lội vô bờ trước. Ba đứa lội theo, tôi với Thư dìu Tý. Ông đi thẳng tới tảng đá đầu rùa, cúi xuống phía chân đá, nơi có một hõm lõm khuất gió. Ông lấy tay phủi lớp cát. Trên mặt đá có hai chữ cái khắc sâu, nét đã mòn nhưng vẫn rõ. Chữ C với chữ L, giữa có một dấu cộng.
"Chín với Liên," ông nói. "Ông khắc năm ông hai mươi tuổi. Bà con khắc cái dấu cộng, nói khắc vậy mới chắc."
Ông ngồi xuống cát, dựa lưng vô tảng đá. Ba đứa ngồi xuống chung quanh ông.
Ông kể, hồi đó ông là thằng trai nhà nghèo ở Cẩm Thanh, chèo thúng ra Cù Lao bán nước mắm. Bà ngoại Thư là con gái Bãi Làng, chiều chiều ra vũng này cạy ốc đá. Lần đầu gặp, ông hỏi đường, bà chỉ sai cố ý cho ông đi lạc một vòng. Lần thứ hai gặp, ông đem tặng bà một bông sen hái ở đầm làng, chèo thúng mười lăm cây số mà cánh sen vẫn còn tươi. Bà tên Liên. Liên là sen.
"Cái hình đó," Thư thì thầm. "Cái hình tụi con tưởng là tôm hùm."
"Bông sen đó con," ông Chín nói. "Ông vẽ dở. Cả đời ông chỉ biết vẽ con cá."
Tý nằm ngửa ra cát cười. Thư lấy tay che mặt cười. Tôi muốn độn thổ. Cái thân tròn tròn là bông sen, mấy nét cong dài ngoằng tôi gọi là râu tôm là cọng sen ông vẽ hơi quá tay. Hai chữ cái không phải Lắm Cua. Cái dấu nhân trên bãi cát là chỗ ông bà ngồi, không phải ổ tôm.
Ông kể tiếp, giọng chậm lại. Đêm rằm tháng Sáu năm đó, ông với bà ngồi ở đây tới khuya. Bà lội xuống nước, khua tay một cái. Ông nói tới đây thì dừng, bảo tụi tôi đợi trời tối rồi coi.
Năm năm trước bà mất. Từ năm đó, rằm tháng Sáu nào ông cũng chèo thúng ra đây một mình, ngồi một đêm, sáng mới về. Người làng thấy ông đi về cười tủm tỉm, đồn ông có ổ tôm. Ông nghe mà không cãi, vì cãi thì phải kể, mà kể thì ông ngại.
"Còn tấm bản đồ?" tôi hỏi.
"Ông vẽ cho má con Thư hồi nó mười tuổi," ông nói. "Nó hỏi ông bà quen nhau ở mô. Ông vẽ cho nó coi, hứa lớn lên đưa nó ra đây. Rồi nó lên thành phố, lấy chồng, bận. Ông cất tấm giấy trong hộp, tính mùa hè ni đưa con Thư ra thay."
Thư không nói được gì. Nó ôm lấy cánh tay ông, úp mặt vô vai áo bạc màu.
Trời tối dần. Trăng rằm lên khỏi mặt biển, tròn và vàng như cái nong phơi lúa. Ông Chín đứng dậy, lội xuống vũng nước tới đầu gối, khua tay mạnh một cái.
Nước biển chỗ tay ông khua sáng bừng lên. Một vệt sáng xanh lam lấp lánh như ai rắc bột bạc, lan ra rồi tắt dần. Ông khua thêm cái nữa, nước lại sáng lên. Mỗi bước chân ông lội để lại một vệt sáng.
"Ngoài nớ nhiều lắm," ông Chín nói, giọng như nói với ai đó không phải tụi tôi. "Hồi đó bà nói rứa. Nhiều hơn sao trên trời."
Ba đứa lội ào xuống. Tôi khua tay, nước sáng. Tý ngồi trên mép đá, thò cái chân lành xuống quẫy, nước sáng. Thư đứng sát cạnh tôi, hai tay khua hai vòng tròn, cười thành tiếng như con nít. Tôi thấy những đốm sáng xanh bám trên ngón tay nó, trên cổ tay nó, trên gọng kính đỏ.
Tay nó chạm vô tay tôi dưới nước. Nó không rút ra. Tôi cũng không.
"Nhà quê," nó nói, rất nhỏ, mà không có chút gì là chê.
Phía sau lưng tụi tôi, ông Chín đã lội lên bờ, ngồi dựa lại tảng đá đầu rùa. Ông nhìn chiếc ghe Liên Hương nằm im trong vũng, cái mắt ghe đỏ lấp lóa dưới trăng. Tôi nghe ông nói một câu rất khẽ, mà về sau tôi nhớ hoài.
"Mai bà Tám lấy ghe rồi bà ơi. Năm sau tui chèo thúng ra thăm bà nghe."