Chương 7: Ngày mười bốn tháng Ba
Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem
Anh Quỳ đứng dậy, cầm ngọn đèn dầu, đi ra khỏi hầm. Anh không bảo tôi theo. Tôi theo.
Anh đi vòng ra sau trạm, men theo chân vách đá vôi, qua chỗ bụi tre gai mà anh em vẫn bảo có rắn. Phía sau bụi tre là một khoảng đất phẳng, nhỏ, sạch cỏ, như có người năng dọn. Giữa khoảng đất có một nấm mộ đắp bằng đá hộc. Đầu mộ cắm một tấm gỗ thùng đạn, chữ khắc bằng mũi dao găm, tô than đen.
Trần Thị Nhạn. Giao liên. Quê Lệ Thủy, Quảng Bình. Hy sinh ngày 14 tháng 3 năm 1969.
Tôi đến Khe Mây vào tháng Năm.
Trên nấm mộ có một cái mũ tai bèo đã bạc trắng, vành rách một miếng. Mũ ướt. Đá hộc quanh mộ cũng ướt, một vệt ướt hình bầu dục ôm lấy nấm mộ, giữa một sườn đồi khô cong.
Anh Quỳ đặt ngọn đèn xuống đất. Anh ngồi xổm cạnh mộ, rút một điếu thuốc cuốn, châm vào đèn. Tay anh không run. Tôi nghĩ một người phải run tay đủ lâu thì đến một lúc sẽ không run nữa.
"Đêm mười bốn tháng Ba," anh nói, "tôi lái chiếc Zin số bốn. Phụ xe là Mạc."
* * *
Anh kể không nhanh không chậm, như đọc một trang sổ giao ca.
Đêm ấy đoàn anh qua Ngầm Đá Trắng. Nhạn dẫn. Hồi ấy cô còn cầm một ngọn đèn pin bọc vải xanh, chỉ hắt một đốm sáng nhỏ xuống đất. Mảnh vải trắng sau lưng là cô tự khâu, để lái xe dễ nhìn khi cô tắt đèn.
Xe anh vừa xuống ngầm thì pháo sáng thả ngay trên đầu. Cả thung lũng sáng trắng như ban ngày. Anh nghe tiếng phản lực bổ nhào. Anh thấy Nhạn đứng giữa ngầm, phía trước mũi xe, hai tay vẫy rối rít. Về sau anh mới biết, phía trước có một quả bom nổ chậm vừa cắm xuống mép đường, cô vẫy để xe dừng lại.
Anh không dừng. Anh đạp lút ga.
"Tôi nghĩ dừng giữa ngầm lúc pháo sáng là chết cả xe. Tôi nghĩ cô ấy sẽ nhảy ra. Tôi chỉ nghĩ được có thế."
Bánh trước bên phải chồm lên một cái. Rồi bánh sau. Mạc hét lên, giật tay nắm cửa định nhảy xuống. Anh túm cổ áo Mạc, lôi lại, tay kia vẫn giữ vô lăng, chân vẫn đạp ga.
Chiếc Zin vọt lên bờ bên kia. Quả bom nổ chậm không nổ. Gần sáng, ở kho binh trạm, một quả bi nổ ngay bên ca-bin. Anh mất con mắt trái.
"Không ai ở trạm biết là xe nào. Đêm ấy có chín xe qua. Họ chỉ tìm thấy cô ấy nằm dưới ngầm lúc sáng, nước chảy qua người. Cái áo bẹp dí. Mảnh vải trắng còn nguyên vết lốp."
Anh rít một hơi thuốc.
"Ra viện, tôi xin về đây làm trạm trưởng. Họ tưởng tôi muốn ở lại trận địa cũ. Tôi muốn ở cạnh cô ấy. Tôi tưởng thế là chuộc được."
* * *
Tối hôm chôn cô xong, trạm không còn ai thạo đường qua trọng điểm. Anh Quỳ định tự dẫn. Lúc trời sẩm, anh ra đầu đường thì thấy mảnh vải trắng đã đứng đó.
Đêm ấy chín xe qua, không một tiếng nổ. Đêm sau, đêm sau nữa. Anh ghi vào sổ hai chữ "trạm trưởng", vì không biết ghi tên ai.
Đêm thứ bảy, cô đến hầm anh.
"O ấy đứng ở cửa. Không vào. Nước trên người chảy xuống thành vũng. Không nói gì. Mà tôi biết o muốn gì. Muốn người trong ca-bin."
Anh dụi điếu thuốc xuống đất. Lần đầu tiên từ lúc ngồi xuống, anh nhìn thẳng vào tôi bằng con mắt còn lại.
"Tôi nói với cô ấy, trong ca-bin có hai người. Tôi nói, cô cứ dẫn xe cho trạm. Đoàn nào cô cũng dẫn qua, không mất một xe. Đổi lại, khi nào Mạc quay lại tuyến này, cô lấy nó. Tôi ở đây giữ trạm, thắp hương cho cô."
Tôi nhớ lại cái nắp ca-pô sạch trơn của xe anh Mạc, cái giẻ anh lau đi lau lại. Xe ấy cô không cần đặt tay. Nó đã được hứa cho cô rồi.
"Tôi viết giấy lên đoàn, xin cho đại đội của Mạc vào cung này," anh Quỳ nói. "Chiều hôm ấy tôi bắt tay nó. Tôi biết."
Tôi đứng đó. Tôi không đánh anh. Đến giờ tôi vẫn không hiểu vì sao tôi không đánh anh.
"Cô ấy bảo em," tôi nói, "không phải anh nớ."
Anh Quỳ ngẩng lên.
Tôi kể. Cái ngầm, cái lưng quay lại, cái tay chỉ về phía Khe Mây, tiếng ho trong hố bom. Anh nghe đến đâu, mặt xám đi đến đó. Đến câu "không phải anh nớ" thì anh đưa tay lên, sờ vào cái hốc mắt khâu kín, như người vừa thấy đau lại ở một vết thương cũ.
"Rứa thì o giữ Mạc làm chi?"
Tôi không trả lời. Cả hai chúng tôi đều biết. Người ta chỉ giữ một người làm tin khi đang chờ người khác.
* * *
Trời sáng hẳn. Anh Quỳ đứng dậy, đi về hầm. Tôi đứng ở cửa nhìn vào.
Anh cởi chiếc áo quân phục còn mới nếp, trải lên sạp. Anh lục trong ba lô lấy ra một miếng vải màn trắng, kéo, kim chỉ đen. Anh cắt miếng vải vuông vức cỡ cái khăn mặt. Rồi anh ngồi khâu nó lên lưng áo. Mũi kim đều, chặt, bốn góc đính chỉ đen, y như mảnh vải trên lưng cô.
Khâu xong, anh cắn đứt sợi chỉ, giũ chiếc áo ra trước ngọn đèn.
"Đêm nay tôi dẫn," anh nói.