Chương 6: Gọi tên giữa trọng điểm
Khoảng 5 phút đọc·7lượt xem
Mất gần trọn một ngày chúng tôi mới lùi được mười hai chiếc xe ra khỏi cái khe đá. Xe anh Mạc do Bính lái, vì Bính từng làm phụ xe cho anh. Không ai muốn ngồi vào cái ghế ấy. Bính lót một tấm bạt lên ghế rồi mới ngồi, suốt đường không nói một câu.
Không thể quay lại Khe Mây theo đường cũ, đường cũ không còn. Chúng tôi men theo bìa rừng, vòng một quãng xa, đêm hôm sau mới về đến trạm. Đêm ấy không có ai dẫn. Mảnh vải trắng không hiện ra. Mười hai chiếc xe bò trong bóng tối như mười hai con trâu mù, may mà trời không có máy bay.
Anh Quỳ đứng chờ ở đầu dốc. Như biết trước giờ chúng tôi về.
Tôi báo cáo. Đoàn đi lạc, tránh được trận rải thảm, đủ xe, đủ hàng. Thiếu một người. Anh Mạc.
Anh Quỳ nghe hết, không hỏi lại câu nào. Không hỏi đi lạc ở đâu, không hỏi tìm chưa. Anh gật đầu, quay vào hầm, giở cuốn sổ giao ca, cầm bút ghi. Tôi đứng ở cửa hầm nhìn qua vai anh. Anh viết: "Mạc, tiểu đội trưởng, mất tích." Nét chữ đều, không run. Như dòng chữ ấy anh đã viết sẵn trong đầu từ lâu, giờ chỉ việc chép ra.
"Phải đi tìm, anh Quỳ."
"Không tìm được đâu."
* * *
Tôi vẫn đi. Sáng hôm sau, được sự đồng ý của đại đội, tôi, Lợi, Bính và Huệ dẫn đường đi bộ ra phía Ngầm Đá Trắng. Ban ngày, đi men theo bìa rừng, nằm rạp mỗi lần con đầm già lượn qua.
Chúng tôi lần theo con khe cụt từ phía trên vách đá. Phía bên kia vách là một sườn dốc toàn đá vôi lởm chởm, đổ xuống thẳng tới Ngầm Đá Trắng. Không ai leo nổi vách ấy ban đêm. Không ai đi từ khe xuống ngầm được mà không qua trận bom.
Gần trưa, Bính kêu lên ở mép một hố bom mới sát bờ ngầm. Dưới đáy hố đọng một vũng nước đục. Trên mép hố, cắm thẳng đứng xuống đất như ai đặt vào, là cái điếu ống bương của anh Mạc.
Điếu còn ướt. Nõ điếu còn nhồi một mồi thuốc chưa đốt.
Huệ nhìn cái điếu, rồi nhìn xuống dòng ngầm phía dưới. Huệ chắp hai tay trước ngực, lầm rầm khấn gì đó. Tôi chỉ nghe được mấy chữ cuối: chị tha cho anh ấy.
Chúng tôi tìm đến chiều, không thấy gì nữa.
* * *
Đêm ấy tôi trốn ra trọng điểm một mình.
Tôi không nói với Lợi. Tôi đợi cả trạm ngủ, buộc lại dây giày, cầm theo khẩu súng nhưng không lên đạn. Tôi đi bộ bốn cây số trong bóng tối, ra đến chỗ con đường bắt đầu chui vào thung lũng. Đêm ấy có trăng khuyết. Thung lũng trắng nhờ, lỗ chỗ hố bom như mặt một cái nồi đồng bị nện méo.
Tôi đứng đó chưa được bao lâu thì thấy nó.
Mảnh vải trắng, phía trước tôi chừng hai chục bước. Đứng yên, quay lưng lại phía tôi. Đợi.
Tôi bước. Nó đi. Tôi dừng, nó dừng. Có một lần tôi giẫm gãy cành khô, mảnh vải khựng lại, vai cô hơi nghiêng về phía sau như nghe ngóng, rồi thôi. Từ đó nó đi chậm hơn, chậm vừa bằng chân tôi.
Không qua con đường cũ đã nát. Nó đi men theo những bờ hố bom, len giữa những thân cây đổ, mỗi bước của nó là một chỗ đất chắc, tôi giẫm theo không trượt một lần. Ngoài kia, trên đỉnh núi, pháo sáng thả xuống hai lần. Lần nào mảnh vải trắng cũng dừng trước tôi một nhịp.
Nó dẫn tôi xuống Ngầm Đá Trắng. Đến giữa dòng thì dừng.
Nước dưới ngầm đêm ấy trong và nông, chỉ ngập mắt cá. Đá trắng dưới đáy sáng lên dưới trăng. Mảnh vải trắng đứng giữa ngầm, quay lưng về phía tôi, không đi nữa.
Tôi biết luật. Không ai được gọi tên cô lúc đang ở trong trọng điểm. Nhưng tôi đã đi bốn cây số trong đêm vì một người tiểu đội trưởng ít nói, và tôi không chịu được cái lưng quay lại ấy nữa.
"Nhạn."
Tiếng tôi vang trên mặt nước, vọng vào vách núi, dội lại.
Cô dừng hẳn. Nước quanh chân cô bỗng đứng lại, không chảy nữa.
Cô quay người. Chậm. Dưới trăng, tôi thấy rõ mảnh vải trắng khi cô xoay nghiêng. Vệt nâu sẫm. Những vạch xiên hình xương cá kéo chéo từ góc dưới lên vai. Ta-lông lốp Zin. Ngay giữa lưng cô, chỗ mảnh vải khâu đè lên, áo cánh nâu bẹp xuống, lõm vào như không có gì bên dưới.
Rồi tôi thấy mặt cô. Mắt cô lần này nhìn thẳng vào tôi.
"Không phải anh nớ."
Giọng cô vẫn như từ dưới nước vọng lên. Cô giơ tay chỉ ngược về phía tôi vừa đi tới, về phía Khe Mây. Tay cô giữ nguyên như thế. Rồi giữa hai lần tôi chớp mắt, chỗ cô đứng chỉ còn dòng nước, lại chảy róc rách qua đá.
Tôi đứng giữa ngầm, nước lạnh ngấm qua giày.
Từ đâu đó phía bờ bên kia, trong một hố bom, vọng lên một tiếng ho. Tiếng ho khục khặc, khàn, đứt quãng, đúng cái tiếng ho của người hút thuốc lào lâu năm sau mỗi lần rít điếu. Tôi đã nghe tiếng ho ấy cả tháng nay, sáng nào cũng nghe, ở gốc cây cạnh xe anh Mạc.
Tôi gọi tên anh. Không có tiếng trả lời. Tiếng ho tắt.
Tôi chạy. Tôi không nhớ mình qua thung lũng thế nào, không nhớ có giẫm theo dấu ai không.
* * *
Về đến trạm thì trời đã tờ mờ. Cả trạm còn ngủ. Chỉ có cái hầm chỉ huy là còn ánh đèn.
Tôi đẩy tấm phên. Anh Quỳ ngồi trong hầm, lưng quay ra cửa, ngọn đèn dầu vặn nhỏ hết cỡ, đúng cái dáng tôi vẫn thấy mỗi chiều. Như anh đã ngồi thế suốt đêm.
Anh không quay lại. Anh hỏi, giọng bình thản đến lạ.
"Cậu gọi tên o ấy rồi, phải không?"