☾ Truyện Ma Có Thật
← Cửa hé một bàn tay

Chương 1: Bàn giao một chiều

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Tôi về làm bảo vệ nhà xác bệnh viện tỉnh đầu tháng Chín năm 1995. Năm ấy tôi hai mươi sáu tuổi, xuất ngũ được hai năm, ở nhà làm ruộng với mẹ ở Hoằng Hoá. Chú Lợi tôi làm ở phòng hành chính quản trị, nghe có chân trống thì gọi tôi lên. Chú nói, việc nhẹ, lương có, chỉ phải cái người ta kiêng. Tôi đi lính bốn năm, tôi không kiêng gì.

Nhà xác nằm ở góc tây nam khuôn viên, sau khoa Lây, cách dãy nhà chính một vườn bạch đàn. Một dãy nhà cấp bốn mái ngói, tường vôi vàng ngả màu nước chè. Trước hiên có cây bàng già, dưới gốc kê một cái ghế đá. Tường rào phía sau giáp ruộng.

Người bàn giao cho tôi là ông Khảm.

Ông ngồi sẵn ở ghế đá lúc tôi dắt xe đạp vào. Người gầy, lưng hơi gù, áo bảo vệ màu cỏ úa bạc hai vai. Tay ông cầm điếu Bông Sen cháy dở. Tôi để ý ngay bàn tay trái của ông, vì ngón út cụt mất một đốt, đầu ngón tròn và bóng như hòn cuội. Ông thấy tôi nhìn thì giơ tay lên, cười.

"Mảnh pháo ở Hàm Rồng. Năm bảy hai. Lúc đó tao đã làm ở đây rồi."

Ông ho một tràng dài sau câu đó. Tiếng ho khô, sâu, như gõ vào thùng rỗng. Ho xong ông lấy khăn tay chấm miệng, gấp lại nhanh, bỏ vào túi.

* * *

Ông dẫn tôi đi một vòng. Gian ngoài rộng, nền xi măng, bốn cái bàn đá granito kê thành hai hàng. Trên trần một bóng đèn tuýp, một đầu đen, cứ nháy một lúc mới sáng hẳn. Góc gian có thùng tôn đựng đá cây, mùn cưa rải quanh cho đá lâu tan. Mùi ở đây là mùi vôi, mùi mùn cưa ẩm, và một mùi thứ ba tôi không gọi được tên.

Cuối gian ngoài có một cánh cửa gỗ nữa, sơn xanh, khoá bằng ổ khoá đồng to bằng bàn tay.

"Gian trong. Buồng lạnh cũ. Hỏng từ năm tám chín, không ai sửa. Để đồ cũ. Mày không phải vào."

Tôi hỏi chìa khoá đâu. Ông không trả lời câu đó. Ông chỉ cho tôi phòng trực, một gian nhỏ sát hiên, có giường cá nhân, chăn chiên, phích Rạng Đông, đài bán dẫn, bếp dầu. Trên tường có bảng gỗ đóng sáu cái móc treo chìa khoá. Tôi đếm được năm chùm.

Ông đưa tôi quyển sổ nhận xác bìa cứng, nói cách ghi. Giờ nhận, khoa nào chuyển xuống, họ tên, giờ người nhà đưa đi. Ông nói bình thường như bàn giao một kho gạo.

Rồi ông dừng ở cửa chính. Cửa gỗ hai lớp, ngoài song sắt, trong ván. Ông đặt bàn tay trái lên mép cửa, kéo hé ra. Khe hở vừa đúng một bàn tay úp.

"Đêm nào cũng để thế này. Hé một bàn tay. Mưa cũng để. Gió cũng để. Đừng hỏi tại sao."

Tôi định hỏi tại sao. Nhìn mặt ông, tôi thôi.

* * *

Ông ngồi ghế đá hút thuốc đến lúc chiều tắt. Tôi pha trà mang ra, ông uống một chén, bảo mai về Nga Sơn. Xe cơ quan đưa ra bến lúc năm giờ sáng, đi chuyến đầu. Tôi hỏi nhà bác ở Nga Sơn còn ai. Ông nhìn ra vườn bạch đàn một lúc.

"Còn đất."

Lúc đứng dậy, ông móc bao Bông Sen trong túi ngực ra, đặt lên bệ cửa sổ phòng trực, cạnh cái phích. Bao thuốc đã bóc, nhàu một góc.

"Để đấy. Tao không mang."

Ông đi về phía khu tập thể, bước chậm. Được một quãng thì ho, dừng lại, chống tay vào gốc bạch đàn. Rồi đi tiếp.

Tôi cầm bao thuốc lên đếm. Bảy điếu.

* * *

Đêm đầu tiên không có xác. Tôi ăn cơm nắm mẹ gói, nghe đài hết buổi ca nhạc theo yêu cầu, rồi tắt đèn. Trước khi nằm, tôi ra kéo cửa chính hé một bàn tay như ông Khảm dặn. Không phải vì sợ. Người ta mới bàn giao, mình đổi ngay thì không phải.

Đêm ở góc này yên hơn tôi tưởng. Tiếng dế dưới chân tường. Tiếng lá bàng rụng xuống mái ngói, gõ một cái rồi trượt xuống. Tôi ngủ.

Tôi tỉnh lúc nào không rõ. Chỉ biết là tỉnh vì một tiếng động rất quen.

Tiếng ghế đá.

Ghế đá thì không kêu. Nhưng ghế ấy kê trên hai chân gạch lệch, ngồi xuống thì kẹt một tiếng khô, nghiêng về bên trái. Chiều nay tôi nghe tiếng ấy khi ông Khảm ngồi. Giờ lại nghe.

Tôi nằm im. Qua khe cửa hé, hiên nhà sáng mờ ánh bóng đèn tròn. Tôi không thấy ghế đá từ chỗ nằm. Nhưng tôi ngửi thấy mùi Bông Sen, khét và ngọt, thứ mùi cả chiều nay tôi hít.

Tôi nghĩ, ông Khảm không ngủ được, ra ngồi. Đêm cuối, ông ngồi chỗ ông đã ngồi hai mươi mấy năm. Tôi thấy thế là hợp lý. Tôi không dậy. Dậy thì ông ngại.

Mùi thuốc kéo dài đúng một điếu. Rồi ghế đá kẹt một tiếng nữa, nhẹ hơn, như người đứng lên. Rồi im.

* * *

Sáng, tôi dậy lúc gà bên ruộng gáy. Ghế đá trống. Dưới chân ghế, bên trái, một mẩu tàn Bông Sen dụi dở, đầu lọc còn ướt.

Tôi quay vào phòng trực định đun nước. Mắt tôi dừng ở bệ cửa sổ.

Bao thuốc vẫn ở chỗ cũ, cạnh cái phích. Tôi cầm lên. Tôi đếm.

Sáu điếu.

Tôi đếm lại. Vẫn sáu. Tôi đứng đó nghĩ xem đêm qua ông Khảm vào phòng trực lúc nào mà tôi không biết. Cửa hé một bàn tay. Người gầy như ông, lách vào cũng được. Tôi bảo mình là có thể.

Nhưng tôi nhớ rất rõ, lúc đặt bao thuốc xuống, ông đã nói là ông không mang. Người đã nói không mang thì quay lại lấy một điếu làm gì.

Bên khu tập thể có tiếng xe cơ quan nổ máy. Năm giờ kém. Chiếc U oát lăn ra cổng sau, ghế trên một bóng người, không ngoảnh lại.

Cuối tuần về Hoằng Hoá, tôi hỏi mẹ một bao Bông Sen có mấy điếu. Mẹ bảo hai mươi, rồi hỏi tôi hút từ bao giờ. Tôi bảo không có gì.