☾ Truyện Ma Có Thật
← Cửa hé một bàn tay

Chương 2: Người ngồi ghế đá

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Xác đầu tiên tôi nhận là một ông cụ ở khoa Nội, mất lúc ba giờ chiều ngày thứ ba. Người đẩy xe xuống là cô Hạnh, hộ lý, người Quảng Xương, nói to và nhanh. Cô giúp tôi chuyển cụ lên bàn đá, đắp vải, kê đá cây xuống dưới, rồi đứng rửa tay ở vòi ngoài hiên rất lâu.

"Anh mới về mà bình tĩnh nhỉ. Thằng trước anh làm có hai tuần, đêm thứ ba bỏ chạy, để cửa mở toang."

Tôi hỏi thằng trước là ai. Cô bảo trước anh là ông Khảm, trước ông Khảm thì cô không biết, cô mới về có năm năm. Tôi hỏi lại, vậy thằng bỏ chạy là thằng nào. Cô nghĩ một lúc, rồi cười.

"Ờ nhỉ. Em nghe ông Khảm kể, mà ông ấy kể như kể chuyện hôm qua. Chắc lâu rồi."

Người nhà ông cụ đến lúc chạng vạng, một đám đông, khóc rồi cãi nhau chuyện thuê xe. Chín giờ tối họ đưa cụ đi. Tôi ghi sổ, rửa bàn đá, rải lại mùn cưa, kéo cửa hé một bàn tay, tắt đèn.

* * *

Đêm ấy tôi không ngủ. Tôi nằm nghiêng, mặt quay ra khe cửa, chờ.

Quá nửa đêm, ghế đá kẹt một tiếng.

Tôi dậy rất khẽ, đi chân đất ra cửa, ghé mắt vào khe hở. Từ chỗ ấy nhìn chếch ra được một góc hiên và nửa cái ghế đá.

Có người ngồi đó. Dáng gầy, lưng gù, quay lưng về phía tôi, nhìn ra vườn bạch đàn. Một đốm lửa đỏ ở ngang tầm tay, sáng lên rồi mờ đi theo nhịp hút. Khói bay ngược vào hiên, lọt qua khe cửa, vào mũi tôi.

Tôi biết dáng ấy. Tôi đã ngồi cạnh dáng ấy cả buổi chiều bàn giao.

Tôi định mở cửa gọi. Rồi tôi nghĩ, ông Khảm chưa đi, chắc vì vé xe hay giấy tờ gì đó, ông ngại nên không nói. Người già tự trọng, mình xô ra hỏi han thì ông mất mặt. Tôi quay về giường. Tôi nằm, nghe tiếng ghế đá kẹt lúc ông đứng lên, rồi ngủ.

Sáng ra bao thuốc trên bệ cửa sổ còn năm điếu.

* * *

Buổi trưa tôi lên phòng hành chính nộp sổ. Bà Tâm làm tổ chức, người béo, kính trễ, nói với tôi trong lúc không ngẩng lên.

"Ông Khảm về Nga Sơn từ hôm bàn giao rồi. Xe cơ quan chở ra bến. Hồ sơ hưu ông ấy làm xong từ tháng Bảy."

Tôi nói, cháu tưởng ông ấy vẫn ở khu tập thể. Bà Tâm ngẩng lên, nhìn tôi qua kính một cái, rồi cúi xuống.

"Phòng ông ấy hành chính thu lại rồi. Cậu hỏi làm gì."

Tôi bảo không có gì. Tôi ra cổng sau tìm ông Tuyên, bảo vệ cổng, người lái xe cơ quan sáng hôm ấy. Ông Tuyên đang ngồi gác chân trên ghế gỗ trong bốt, nghe đài. Ông bảo sáng ấy ông chở ông Khảm ra bến xe phía Bắc, ông Khảm xuống xe, cầm một cái túi vải nhỏ, bảo ông về trước đi.

"Tôi về. Ông ấy đứng đấy. Xe chuyến đầu về Nga Sơn chưa vào bến. Ông ấy vẫy tay, tay này này."

Ông Tuyên giơ bàn tay trái lên, gập ngón út xuống. Rồi ông cười, bảo thôi, nói chuyện người đi làm gì.

Tôi đạp xe về nhà xác, lòng dạ không yên. Có một người đứng ở bến xe lúc năm giờ sáng với một cái túi vải nhỏ, và có một người ngồi ở ghế đá lúc hai giờ đêm hút thuốc. Một trong hai người ấy không phải là người tôi nghĩ.

* * *

Đêm thứ tư, tôi quyết định hỏi.

Tôi không tắt hẳn đèn phòng trực, để lại ngọn đèn dầu vặn nhỏ. Quá nửa đêm, ghế đá kẹt. Tôi ra cửa, không ghé mắt nữa, mà đứng sát khe hở, nói ra ngoài, giọng vừa đủ.

"Bác Khảm chưa về à?"

Người trên ghế đá không quay lại. Đốm lửa dừng ở ngang tầm tay một lúc lâu, rồi đưa lên miệng, sáng, rồi hạ xuống. Và cái đầu gật, một cái, chậm.

Tôi đứng chờ ông nói gì. Ông không nói. Lưng ông vẫn quay về phía tôi. Gió qua vườn bạch đàn kéo mùi thuốc vào khe cửa, và tôi chợt để ý một việc rất nhỏ.

Mùi thuốc có. Tiếng thở không có. Người hút thuốc lúc rít vào, lúc nhả ra đều có tiếng. Ông Khảm ho nhiều, tiếng thở ông rít như kéo gỗ. Chiều bàn giao tôi nghe cả buổi.

Ngoài hiên, ngoài tiếng dế, không có tiếng gì.

Tôi nói, bác vào trong uống nước. Cái đầu không gật nữa. Đốm lửa hạ xuống thấp, dụi vào chân ghế bên trái. Ghế đá kẹt. Tôi nhìn theo chỗ ông đứng lên, nhưng từ khe cửa chỉ thấy được nửa hiên. Ông đi về phía nào, tôi không thấy.

Tôi không ngủ lại được. Tôi ngồi trên giường đến sáng, nhìn ngọn đèn dầu.

Bốn điếu.

* * *

Sáng ấy tôi đi vòng ra khu tập thể, dãy nhà cấp bốn phía sau khoa Dược, nơi cán bộ độc thân ở. Tôi hỏi một bà bán nước ở đầu dãy phòng ông Khảm là phòng nào. Bà chỉ phòng cuối.

Cửa phòng khoá ổ khoá sắt. Trên khe cửa dán một mảnh giấy niêm phong của phòng hành chính, có dấu đỏ, ghi ngày thu phòng. Ngày mùng bốn tháng Chín. Ngày bàn giao.

Giấy niêm phong còn nguyên. Ổ khoá bám một lớp bụi mỏng. Không ai mở cửa này từ hôm ấy.

Bà bán nước nói với theo:

"Ông ấy về quê rồi mà. Anh tìm ông ấy làm gì?"

Tôi nói cháu hỏi thế thôi. Tôi đạp xe về nhà xác, đi qua vườn bạch đàn, nhìn cái ghế đá dưới gốc bàng. Ghế trống. Nắng tháng Chín rọi qua lá bàng xuống mặt ghế, loang lổ.

Tôi ngồi xuống chỗ ông vẫn ngồi. Ghế kẹt, nghiêng về bên trái. Mặt đá dưới mông tôi lạnh, dù nắng đã rọi vào đấy cả buổi sáng.

Lạnh như vừa có người ngồi lên suốt đêm, mới đứng dậy.