☾ Truyện Ma Có Thật
← Cửa hé một bàn tay

Chương 10: Sổ hưu chưa ai lĩnh

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Đầu tháng Mười Một, bà Tâm cho người gọi tôi lên phòng tổ chức. Bà không cúi xuống giấy tờ như mọi khi. Bà ngồi thẳng, hai tay đặt lên một cái phong bì to của bưu điện.

"Bưu điện Nga Sơn trả về hai tháng lương hưu của ông Khảm. Kèm công văn. Xã Nga Phú xác nhận không có người tên ấy về cư trú, không ai đến lĩnh. Cậu có liên lạc gì với ông ấy không?"

Tôi nói không. Tôi kể lá thư trả lại. Bà Tâm nghe xong bỏ kính ra, day sống mũi.

"Hai tháng rồi. Nếu ông ấy ốm đau ở đâu đó thì phải có bệnh viện nào báo về. Nếu ông ấy mất thì phải có giấy báo tử. Không có gì cả. Một cán bộ hưu của bệnh viện không thể biến mất như thế."

Tôi bảo, hay bệnh viện cho người về Nga Phú hỏi. Bà nhìn tôi.

"Cậu đi. Chủ nhật. Tôi viết giấy giới thiệu. Chú Tuyên chở."

* * *

Chủ nhật, tôi và ông Tuyên đi xe máy ra Nga Sơn, bốn chục cây số, qua phà. Nga Phú là một xã ven biển, đất cát, phi lao trồng thành hàng chắn gió. Chúng tôi hỏi uỷ ban, hỏi bưu điện, hỏi quán nước. Không ai thấy một ông già gầy, ho, xách túi vải về làng hồi tháng Chín.

Một bà cụ bán hàng ở chợ xã nhớ ra tên Khảm khi tôi nói năm bảy hai, cả nhà chết trong hầm.

"Thằng Khảm con ông Cả Nhuận. Nó về chôn xong một lượt năm người rồi đi, từ đấy không về. Mộ còn ở cồn cát phía sau chùa, năm nấm, tao vẫn thấy có người thắp hương mỗi rằm tháng Bảy, không biết ai."

Chúng tôi ra cồn cát. Năm nấm mộ xây gạch thấp, quét vôi đã tróc, cỏ cát mọc quanh. Trên nấm giữa có chân hương cũ, màu đã bạc, cắm từ tháng Bảy. Tôi đếm chân hương. Ba cây. Ông Khảm ra đây rằm tháng Bảy, thắp ba nén, rồi về bệnh viện làm hồ sơ hưu.

Tôi đứng đó, gió biển thổi cát vào mặt. Tôi hiểu đây là lần cuối ông về. Ông về để chào.

Ông Tuyên đứng sau tôi, không nói gì. Lúc quay ra xe, ông bảo:

"Sáng ấy tôi thả ông ấy ở bến xe. Ông ấy bảo tôi về trước. Bến xe cách bệnh viện có ba cây. Người đi bộ cũng về được."

Ông nói xong thì im, như người vừa nói ra một điều mà mình đã nghĩ từ lâu và không muốn nghĩ.

* * *

Về đến thành phố thì đã tối. Tôi bảo ông Tuyên rẽ qua Cầu Bố, tôi muốn báo cho ông Cường. Nhà ông Cường đóng cửa. Hàng xóm bảo ông bị tai biến ba hôm trước, đang nằm khoa Nội bệnh viện tỉnh.

Tôi lên khoa Nội. Ông Cường nằm giường sát cửa sổ, một bên mặt xệ xuống, tay phải không cử động được. Ông nhận ra tôi, nói ngọng, mỗi tiếng một hơi.

"Nó về chưa?"

Tôi nói chưa. Tôi không nói ra những gì tôi đã nghĩ trên cồn cát. Ông Cường nhắm mắt. Rồi ông nói, bằng cái tay còn cử động, ông nắm cổ tay tôi, siết rất mạnh so với người ốm.

"Mày biết nó ở đâu. Tao nhìn mặt mày là biết."

Tôi không trả lời. Ông buông tay tôi ra.

"Thôi. Tao đợi."

* * *

Tôi về nhà xác lúc chín giờ tối. Tôi làm một việc trước khi ngồi xuống. Tôi ra nhà kho vật tư, lúc anh kho đã về, lấy một cái xà beng dài một sải tay, mang về dựng ở góc phòng trực. Tôi không xin phép ai. Sáng mai tôi mở gian trong. Biên bản, kiểm kê, giám đốc ký, để sau.

Tôi kéo cửa hé một bàn tay, tắt đèn, ngồi chờ.

Đêm ấy ghế đá kẹt sớm hơn mọi khi, mới hơn mười hai giờ. Tôi ra khe cửa.

Ông ngồi đó, lưng quay về tôi, như mọi đêm. Nhưng đêm ấy ông không hút thuốc. Hai tay ông đặt trên đầu gối. Ông ngồi im rất lâu, rồi ông quay đầu lại.

Lần đầu tiên ông quay lại nhìn thẳng vào khe cửa, nhìn tôi.

Ánh đèn tròn ở cột chiếu từ phía sau, mặt ông khuất trong bóng. Tôi không thấy mắt. Tôi chỉ thấy đường viền một cái đầu gầy, gò má nhô, cổ nhỏ trong cổ áo rộng. Ông nhìn tôi độ bằng thời gian một hơi thở dài. Rồi ông đứng dậy.

Ông không đi về phía vườn bạch đàn. Ông đi về phía cửa. Về phía tôi.

Tôi lùi một bước. Tiếng dép lê trên gạch, chậm. Vệt bóng dài và gầy chắn hết ánh đèn lọt qua khe. Ông dừng ở ngay bên kia cánh cửa, cách mặt tôi một tấm ván và một bàn tay khe hở.

Giọng khàn khô ấy vang lên, nhỏ, ngay sát khe.

"Thằng Cường nằm khoa Nội, phải không."

Tôi nói phải. Ông im. Rồi ông nói, giọng xuống thấp đến mức tôi phải đoán hơn là nghe.

"Mai thì được. Mở đi. Tao hết đợi nổi rồi."

Vệt bóng nghiêng đi, lách qua khe cửa vào gian ngoài. Tôi đứng sát tường, nín thở. Một luồng lạnh đi ngang qua tôi, cách một cánh tay, mang theo mùi thuốc lá và mùi ngọt lợ kia, trộn lẫn. Tiếng dép lê đi về cuối gian. Mười hai bước.

Rồi một tiếng tôi đợi nghe từ lâu. Tiếng ổ khoá đồng lách cách. Không phải tiếng chìa tra vào. Tiếng cái móc khoá bật ra, như có người mở nó từ bên trong, nơi không ai mở được một cái ổ khoá treo ở ngoài.

Tiếng cánh cửa sơn xanh kẹt. Mở. Rồi đóng.

Tôi ngồi xuống giường, nhìn cái xà beng dựng ở góc. Tôi không ngủ. Tôi chờ sáng, và tôi biết đây là đêm cuối cùng tôi chờ tiếng ghế đá theo cách này.