☾ Truyện Ma Có Thật
← Cửa hé một bàn tay

Chương 9: Người không ai nhận

Khoảng 4 phút đọc·6lượt xem

Cuối tháng Mười, bảo vệ cổng trước nhặt được một ông lang thang nằm chết ở vỉa hè trước cổng viện, lúc sáng sớm. Không giấy tờ, không ai biết tên. Khoa Cấp cứu khám xác nhận rồi chuyển xuống tôi. Trong sổ nhận xác, chỗ họ tên, tôi ghi hai chữ: vô danh.

Chú Lợi xuống tận nơi, việc hiếm. Chú đứng ở cửa nhìn người đàn ông trên bàn đá thứ nhất, rồi nói với tôi bằng giọng dạy việc.

"Loại này để bảy ngày. Công an phường đăng tin, có ai nhận thì giao. Không ai nhận thì bệnh viện chôn. Mày làm biên bản, tao ký, công an ký, phòng vật tư cấp một tấm ván. Chôn ở khu vô danh nghĩa trang Chợ Nhàng. Có xe cải tiến."

Tôi hỏi, bảy ngày thì để ở đâu. Chú nhìn quanh bốn cái bàn đá.

"Thì ở đây. Mua thêm đá. Ông Khảm làm thế hai mươi năm."

Tôi hỏi, thế lỡ hết bảy ngày mà vẫn có thể có người đến thì sao. Chú bảo, luật là bảy ngày. Rồi chú đi.

* * *

Người đàn ông vô danh nằm với tôi bảy đêm.

Tôi thay đá hai lần một ngày. Mùa này trời mát, đá lâu tan. Tôi mua thêm hương, thắp một nén mỗi tối ở đầu bàn, vì không ai thắp cho ông. Tôi không biết vì sao mình làm thế. Tôi nghĩ nếu ông Khảm còn ở đây thì ông sẽ làm.

Cô Hạnh xuống xem, bảo tôi khéo.

"Ông Khảm cũng hay thắp hương cho mấy người vô danh. Ông ấy bảo em, loại này cứ để, bao giờ hết chỗ hãy chôn, để lâu nhất bốn mươi ngày. Em bảo luật bảy ngày mà. Ông ấy bảo luật của ông ấy là bốn mươi."

Tôi hỏi, bốn mươi ngày có ý gì. Cô bảo cô không biết. Người ta cúng bốn mươi chín, chắc ông ấy trừ đi mấy ngày nằm viện.

Tôi nghĩ đến điều cô vừa nói trong lúc rải mùn cưa. Một người biết quá rõ luật bảy ngày, và tự đặt luật bốn mươi cho mình. Một người sẽ làm gì nếu biết trước mình sắp thành người không ai nhận.

Tôi không nghĩ tiếp. Tôi đã quen dừng ở mép hố ấy.

* * *

Mấy đêm ấy ông Khảm vẫn ra ghế đá. Tôi không ra ngồi cùng nữa. Đêm ngồi cùng ông, tôi về giường lúc sáng và nằm run đến trưa, không phải vì sợ, mà vì cái lạnh ở vai tôi không chịu tan. Tôi đã nói chuyện với ông một lần. Một lần là đủ cho một đời.

Nhưng tôi để ý, những đêm có người vô danh nằm trong nhà, ông ngồi lâu hơn. Hai điếu, có đêm ba. Và mùi ngọt lợ từ gian trong dịu đi, như có cái gì đó trong ấy đang nằm im hơn.

Bao Bông Sen còn mười bốn.

* * *

Hết bảy ngày, không ai đến.

Buổi sáng thứ tám, tôi làm biên bản. Chú Lợi ký, một anh công an phường ký, phòng vật tư cho một tấm ván tạp đóng vội, bốn tấm ghép, nắp đậy bằng đinh. Tôi và ông Tuyên khiêng. Người ông nhẹ đến mức tôi tưởng mình khiêng tấm ván không.

Xe cải tiến kéo bằng tay ra cổng sau, qua đường tàu, đến nghĩa trang Chợ Nhàng lúc gần trưa. Khu vô danh ở góc tây, giáp ruộng, không có bia, chỉ có những nấm đất thấp xếp hàng, có nấm đã sụt bằng mặt đất. Người đào huyệt là một ông già làm nghề này ba mươi năm. Ông hỏi tôi, người mới hả. Tôi bảo vâng.

"Thằng Khảm đâu? Mọi khi nó đưa."

Tôi bảo ông ấy hưu rồi. Ông già cắm xẻng xuống đất.

"Hưu rồi à. Nó bảo tao để dành cho nó một chỗ ở hàng này. Tao bảo mày điên, mày có cơ quan, có bạn, ai để mày vô danh. Nó bảo cho chắc."

Ông già chỉ một khoảng trống cuối hàng, cạnh bờ ruộng, đất phẳng, cỏ chưa mọc.

"Chỗ ấy. Tao chừa từ hè."

Chúng tôi hạ ván xuống, lấp đất. Tôi thắp một nén hương, đứng một lúc. Gió từ ruộng thổi vào mang mùi rạ mục. Tôi nhìn khoảng đất trống cuối hàng, chỗ ông già chừa từ hè, và tôi nghĩ, ông Khảm xin chỗ ấy từ hồi làm hồ sơ hưu.

Ông ấy biết. Từ tháng Bảy ông ấy đã biết.

* * *

Đêm ấy nhà xác không có ai. Tôi để cửa hé, nằm chờ tiếng ghế đá.

Ghế đá không kẹt.

Thay vào đó, lúc gần hai giờ, có một tiếng từ cuối gian ngoài. Tiếng kim loại rơi xuống xi măng. Một tiếng, gọn, nặng, như người ta buông một cái chìa khoá to từ độ cao ngang hông. Rồi tiếng ấy trượt đi một đoạn ngắn, như bị đá nhẹ. Rồi im.

Tôi cầm đèn dầu đi ra. Mười hai bước. Cửa gian trong đóng, ổ khoá đồng vẫn móc trong khoen, vẫn khoá. Trên nền xi măng trước cửa không có gì. Nhưng tiếng rơi ấy không ở ngoài này. Nó ở bên trong, sát cánh cửa, bên kia lớp ván.

Tôi áp tai vào. Lần này tôi nghe rõ. Tiếng thở dài, khàn, và một câu rất nhỏ, như người nói với chính mình chứ không phải với tôi.

"Hết chỗ rồi."

Sáng ra, bao Bông Sen không còn trên bệ cửa sổ. Tôi tìm thấy nó ở ngưỡng cửa gian trong, dựng đứng, tựa vào cánh cửa sơn xanh, như người ta đặt một bao thuốc lên bàn thờ.

Mười ba điếu.