☾ Truyện Ma Có Thật
← Cửa hé một bàn tay

Chương 5: Đêm bốn bàn đá

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Đầu tháng Mười, một chiếc xe khách chạy đêm từ Hà Nội về Vinh lật ở dốc Hà Trung. Bệnh viện huyện không chứa nổi, chuyển cả người bị thương lẫn người chết lên tỉnh. Xe cấp cứu về đến cổng sau lúc bốn giờ sáng, còi tắt từ ngoài đường mà tôi vẫn nghe tiếng bánh xe nghiến trên sỏi.

Bốn người chết. Hai đàn ông, một đàn bà, một đứa bé trai độ mười tuổi. Cô Hạnh và hai hộ lý nữa xuống giúp tôi. Bốn bàn đá đầy. Đứa bé nằm ở bàn thứ tư, sát cửa gian trong, vì nó nhỏ nhất và bàn ấy ngắn nhất.

Tôi đi gọi xe đá cây, rải mùn cưa, pha hai phích nước. Người nhà kéo đến từ trưa, từ Hà Nội, từ Vinh, từ Nghi Sơn. Họ ngồi tràn ra hiên, ra gốc bàng, trên ghế đá, trên cả thềm. Tiếng khóc không dứt từ trưa đến chập tối. Tôi làm việc trong tiếng ấy như người ta làm việc trong mưa.

* * *

Buổi chiều, lúc rải mùn cưa quanh bàn thứ tư, tôi nhìn thấy nhặng.

Không nhiều. Độ chục con, bu ở khe dưới cánh cửa sơn xanh, bò vào bò ra chỗ gỗ mục ở góc. Nhặng xanh, loại to, bay nặng. Mùa này còn nóng, nhà xác có nhặng là thường. Nhưng chúng không bu bàn đá. Chúng bu cái khe ấy.

Tôi nghĩ chuột chết trong gian trong. Nhà kho đóng kín sáu năm, chuột chết là phải. Tôi lấy chổi quét chúng đi, chúng bay lên rồi đậu lại chỗ cũ.

Tôi lên phòng hành chính gặp chú Lợi. Tôi nói, gian ngoài hết chỗ, lỡ đêm nay thêm người thì để đâu, xin mở gian trong. Chú lắc đầu trước khi tôi nói hết.

"Buồng lạnh hỏng từ đời nào. Chìa ông Khảm giữ, giờ mất. Phá khoá thì phải làm giấy, giấy thì phải giám đốc ký. Mày định để xác vào cái kho đồ cũ à?"

Tôi nói có mùi. Chú bảo nhà xác mà không có mùi thì là nhà gì. Chú đang bận, bốn cái xác là bốn bộ hồ sơ, bốn gia đình. Tôi đi về.

* * *

Đêm ấy đông người nhất từ khi tôi về. Người nhà không chịu về nhà trọ, trải chiếu ngủ ngoài hiên, dưới gốc bàng. Tôi để cửa chính hé một bàn tay như mọi đêm, dù đêm nay có hé hay không cũng chẳng ai để ý. Tôi không ngủ, ngồi trong phòng trực, thỉnh thoảng ra thay đá, châm thêm dầu đèn.

Quá hai giờ, tiếng khóc ngoài hiên đã lắng. Người ta nằm co trên chiếu, có người ngáy. Tôi ra cửa.

Trên ghế đá có hai người ngồi.

Đầu bên phải là một ông già tóc bạc, người nhà của người đàn ông chết lớn tuổi nhất, tôi nhớ mặt vì chiều ông khóc không ra tiếng. Ông ngồi gục, hai tay kẹp giữa hai đầu gối.

Đầu bên trái là một dáng gầy, lưng gù, áo bảo vệ màu cỏ úa. Đốm lửa đỏ ở ngang tay.

Hai người ngồi cách nhau một khoảng. Người bên trái không quay sang. Nhưng tôi thấy ông ta đưa tay ra, bàn tay trái, đặt lên ghế đá giữa hai người, úp xuống. Ông già bên phải không nhìn, chỉ hơi ngẩng đầu, rồi cúi xuống như cũ. Môi ông già mấp máy. Dáng bên trái gật, một cái, chậm.

Tôi đứng sau khe cửa nhìn hai người đàn ông già ngồi cạnh nhau trong đêm, một người khóc không ra tiếng, một người hút thuốc không ra tiếng thở. Tôi không bước ra. Tôi hiểu đó không phải chuyện của tôi.

Đốm lửa hạ xuống, dụi vào chân ghế bên trái. Ghế kẹt một tiếng khẽ. Khi tôi nhìn lại thì trên ghế chỉ còn ông già.

* * *

Sáng, người nhà bắt đầu làm thủ tục đưa người về. Ông già tóc bạc đến chào tôi lúc xe đã nổ máy. Ông nắm tay tôi, tay ông khô và lạnh.

"Cảm ơn các anh. Đêm qua tôi ngồi không nổi, may có ông bảo vệ già ngồi với tôi. Ông ấy bảo tôi, con nằm ở đây là yên nhất rồi, đừng khóc nó không đi được."

Tôi hỏi ông bảo vệ già nào. Ông bảo ông không hỏi tên, người gầy, tay thiếu một đốt ngón út, cho ông một điếu thuốc, ông không hút nhưng cầm cho đỡ trống tay.

Ông mở bàn tay. Trong lòng bàn tay là một điếu Bông Sen, nhàu, đầu lọc hơi ố vàng vì để lâu.

"Ông ấy còn dặn tôi một câu, bảo nhắn cậu bảo vệ trẻ. Tôi không hiểu, nhưng tôi hứa nên tôi nhắn."

Tôi chờ.

"Ông ấy bảo, nói với thằng Thịnh, đừng mở."

Tôi hỏi, mở cái gì. Ông già lắc đầu, bảo ông ấy không nói. Rồi ông lên xe. Xe đi, bánh nghiến trên sỏi như lúc đến.

* * *

Tôi vào phòng trực. Bao Bông Sen trên bệ cửa sổ không còn hình bao thuốc nữa. Nó đã được bóp bẹp, gấp đôi, rồi gấp đôi lần nữa thành một miếng vuông nhỏ, đặt ngay ngắn ở đúng chỗ cũ, cạnh cái phích. Gấp kỹ, cạnh thẳng, như cách người ta gấp một lá thư đã viết xong.

Hết thuốc. Điếu cuối cùng ông cho ông già kia.

Tôi ra quán bà bán nước ở khu tập thể mua một bao Bông Sen mới. Bà hỏi anh hút à. Tôi bảo không. Bà nhìn tôi lâu, rồi đưa bao thuốc, không lấy tiền.

"Ông Khảm nợ tôi một bao từ hồi tháng Tám. Coi như tôi trả ông ấy."

Tôi về, bóc bao, để lên bệ cửa sổ, cạnh miếng vỏ bao gấp vuông. Tôi không bỏ cái vỏ ấy đi. Tôi nghĩ nếu ông đã gấp kỹ như thế thì ông muốn tôi giữ.

Tối ấy gió đổi hướng. Lá bạch đàn bay ngược vào hiên. Đài báo gió mùa đông bắc về sớm hơn mọi năm.