☾ Truyện Ma Có Thật
← Cửa phụ sau khi tắt bếp

Chương 1: Về ở rể bản Nà Hừa

Khoảng 5 phút đọc·9lượt xem

Năm 2011 tôi là thợ hàn ở công trường thủy điện Huổi Quảng, huyện Mường La, Sơn La. Quê tôi ở Giao Thủy, Nam Định, đất mặn, con trai lớn lên là đi. Năm hai mươi sáu tuổi tôi dừng lại ở một cái lán cơm bên đường vào cửa hầm.

Lán cơm ấy của một cô gái người Thái tên là Lò Thị Ín. Ín nấu cơm cho thợ, thịt trâu gác bếp, rau cải mèo, canh măng chua. Cô nói tiếng Kinh lơ lớ, cười ít, làm việc nhanh như không biết mệt. Có lần dao thái thịt trượt vào ngón tay cô, máu chảy ròng xuống thớt. Ín chỉ lấy miếng vải buộc chặt lại rồi thái tiếp, mặt không đổi.

Tôi đứng nhìn bàn tay ấy lâu hơn nhìn mặt cô. Từ hôm đó tôi ăn cơm ở lán ấy, không ăn chỗ nào khác.

* * *

Tháng Giêng năm 2012 tôi cưới Ín. Bố mẹ tôi ở quê không lên được, gửi lên một tráp trầu cau và hai triệu bạc. Nhà Ín ở bản Nà Hừa, xã Chiềng Lao, cách công trường mười hai cây số đường đất. Theo lệ người Thái ở đó, rể phải về ở nhà vợ ba năm, làm lụng cho nhà vợ rồi mới được tính chuyện ra riêng.

Tôi không thấy thiệt. Bố vợ tôi, ông Lò Văn Pánh, góa vợ đã hai mươi năm, nhà chỉ có hai bố con. Ông gầy, lưng hơi gù, tóc cắt ngắn bạc gần hết, hút điếu cày nhiều hơn nói. Ông không thích tôi, cũng không ghét. Ông nhìn tôi như nhìn một cây cột mới dựng vào nhà, chờ xem nó có thẳng không.

Đám cưới làm ba ngày. Mấy bà già trong bản hát những bài dài bằng tiếng Thái, hát đến đoạn nào đó thì đàn bà con gái quanh mâm khóc cả. Tôi hỏi, người ta bảo đó là bài dặn con gái lấy chồng. Tôi quay sang nhìn Ín. Cô ngồi thẳng, hai tay đặt trên gối, mắt khô.

* * *

Nhà sàn của ông Pánh dựng bằng gỗ nghiến, mái lợp cỏ tranh đã thay bằng ngói đỏ, hai đầu hồi khum lại như mai rùa. Có hai cầu thang. Cầu thang trước ở đầu hồi phía đường, chín bậc, dành cho khách và việc lớn. Ở đầu hồi bên kia, phía vườn và con suối nhỏ, có một cái cửa hẹp thông ra một mảng sàn phơi, từ đó có một cầu thang sau, bảy bậc, đi thẳng xuống vườn.

Người trong nhà gọi nó là cửa phụ. Cửa làm bằng một tấm ván liền, cài then gỗ từ bên trong. Sát cửa phụ là gian hóng, góc thờ của nhà, treo một cái giỏ mây và mấy ống tre, người ngoài không được vào. Giữa nhà là bếp lửa, một khung gỗ đổ đất, ba hòn kê, trên treo giàn gác bếp đen bóng muội.

Tối đầu tiên tôi ngủ ở nhà vợ, ăn cơm xong, ông Pánh ngồi bên bếp, gẩy than một lúc rồi lấy tro phủ kín lên. Than đỏ lặn dần dưới lớp tro xám, chỉ còn hơi ấm và một sợi khói mảnh. Người Thái gọi là ủ bếp. Ông bảo đó là tắt bếp.

Ông nói với tôi bằng tiếng Kinh, chậm, từng chữ như đã nghĩ từ trước.

"Tắt bếp rồi thì không đi cửa phụ. Muốn xuống đất thì đi cầu thang trước. Đái đêm cũng đi cầu thang trước."

Tôi hỏi vì sao. Ông nhìn sang góc hóng.

"Ma nhà ở đấy. Đêm là đường của ma nhà. Người đi vào đường ấy thì phải trả."

Tôi gật. Tôi là người Kinh, lớn lên ở vùng biển, nhà tôi cũng thắp hương thổ công, cũng kiêng đủ thứ. Kiêng thêm một cái cửa thì có gì khó. Ín nằm bên trong màn, không nói gì. Trước khi chui vào màn, tôi thấy ông Pánh làm một việc lạ.

Ông lấy một ống bương, rót đầy nước, đặt sát ngưỡng cửa phụ, phía trong. Cạnh ống nước, ông đặt một miếng trầu đã têm sẵn. Rồi ông cúi đầu, nói một câu tiếng Thái rất khẽ, kéo then cửa xem đã chặt chưa, và đi ngủ.

* * *

Đêm ở bản Nà Hừa im đến mức nghe được tiếng suối dưới vườn và tiếng con trâu nhai lại dưới gầm sàn. Gió từ núi xuống lùa qua khe ván, lạnh và có mùi lá mục. Tôi quen tiếng máy khoan, tiếng nổ mìn ở công trường, nên nằm mãi không ngủ được. Ín ngủ rồi, thở đều, quay lưng về phía tôi.

Không biết từ lúc nào, con trâu dưới gầm sàn thôi nhai. Gió cũng ngừng lùa. Rồi tôi nghe một tiếng cạch.

Tiếng gỗ trượt trên gỗ. Ngắn và gọn. Tiếng của cái then cửa phụ khi người ta kéo nó ra. Tôi biết vì chiều hôm ấy tôi đã thử kéo nó một lần, nó kêu đúng như thế.

Tôi nằm im. Không có tiếng cửa mở. Không có tiếng chân. Chỉ một lúc sau, bên ngoài, trên mảng sàn phơi, có tiếng ván kêu khẽ. Tiếng ván dưới sức nặng của một người ngồi xuống thật chậm, như người già ngồi, hai tay chống trước rồi mới hạ mình.

Rồi một mùi bay vào nhà. Mùi trầu. Mùi lá trầu, vỏ chay và vôi, mùi tôi nhớ từ bà nội tôi ở quê. Nó đặc lại trong bóng tối, lẫn với mùi khói bếp ủ.

Tôi không dám ngồi dậy. Tôi nhìn về phía bếp, phía bên kia là bóng ông Pánh trong màn. Ông nằm ngửa, không động đậy. Nhưng tôi có cảm giác ông cũng đang thức.

Tôi nằm như thế đến khi gà gáy.

Sáng ra tôi dậy sớm nhất nhà. Then cửa phụ vẫn cài chặt, đúng chỗ cũ. Ống bương ở ngưỡng cửa thì cạn khô, không còn một giọt. Miếng trầu biến mất. Trên mép ngưỡng cửa, sát khe ván, có một vệt đỏ sẫm, to bằng đồng xu, như người ta nhổ bã trầu.

Tôi chạm ngón tay vào. Vệt đỏ ấy còn ướt.