Chương 2: Ống nước bên ngưỡng cửa
Khoảng 4 phút đọc·9lượt xem
Tôi không kể với ai chuyện vệt trầu. Sáng hôm ấy tôi lấy giẻ lau đi trước khi Ín dậy, rồi xuống suối rửa mặt, nước lạnh buốt đến chân răng. Lúc tôi quay lên, ông Pánh đã ngồi bên bếp, thổi lại lửa từ đống tro, mặt bình thường như chưa có gì.
Ông nhìn cái ống bương cạn, nhìn ngưỡng cửa đã lau sạch, rồi nhìn tôi. Ông không hỏi.
Từ đó tôi để ý. Đêm nào cũng vậy. Ăn tối xong, ông ủ bếp, rót đầy ống nước, đặt miếng trầu, nói một câu tiếng Thái, kéo thử then cửa phụ. Sáng nào ống nước cũng cạn. Không phải đêm nào tôi cũng nghe tiếng then cửa. Có đêm tôi ngủ say, có đêm tôi thức đến sáng mà bên ngoài im lặng. Nhưng ống nước thì sáng nào cũng cạn.
Tôi nghĩ đến chuột, đến mèo, đến hơi nước bốc lên vì để gần bếp. Ống bương sâu gần một gang tay. Chuột không uống hết từng ấy nước. Mèo thì nhà ông Pánh không nuôi.
* * *
Tôi vẫn đi làm ở công trường. Sáng chạy xe máy ra, tối chạy về, đường đất đỏ mùa khô bụi mù, mùa mưa trơn như mỡ. Ín bỏ lán cơm, ở nhà làm nương với bố. Đến tháng Tư thì cô bảo tôi cô có mang.
Cô nói lúc đang đồ xôi, lưng quay về phía tôi, giọng như bảo nồi xôi sắp chín. Tôi đứng sững một lúc rồi ôm lấy cô từ phía sau. Ín để yên cho tôi ôm, tay vẫn đảo xôi. Tôi thấy vai cô run lên một chút. Tôi nghĩ cô đang cười, nhưng khi cô quay lại, mặt cô chỉ hơi đỏ, mắt vẫn khô như hôm cưới.
Ông Pánh biết tin thì không nói gì. Chiều hôm ấy ông bắt một con gà trống thiến, làm sạch, luộc chín, đặt lên mâm, bưng vào gian hóng. Ông ngồi trong đó rất lâu. Tôi nghe tiếng ông lầm rầm, lúc to lúc nhỏ, có lúc ngừng hẳn như đang chờ ai trả lời.
Ra khỏi gian hóng, ông bảo tôi:
"Từ giờ đến lúc nó đẻ, con nhớ lời bố dặn hôm đầu. Đừng quên."
* * *
Ín có một thói quen mà từ hồi ở lán cơm tôi đã thấy. Khi tay làm việc gì đều đều, khâu vá, nhặt rau, cô hay ngân nga một bài hát. Không có lời, chỉ ư ử trong cổ. Giai điệu chậm, lên xuống như người ta đưa võng, đến cuối câu thì kéo dài ra rồi tắt, như hơi thở cuối của người sắp ngủ.
Tôi hỏi bài gì. Cô bảo không biết, chắc là bài ru.
"Ai ru em bài ấy?"
Ín ngẩng lên, nhìn tôi một lúc như chưa từng nghĩ đến câu hỏi đó. Rồi cô lắc đầu.
"Mẹ em mất lúc em ba tuổi. Bố không biết hát. Chắc em nghe ở đâu đó."
Cô cúi xuống khâu tiếp. Một lúc sau cô lại ư ử, đúng giai điệu ấy, như người ta không cưỡng được.
Trong nhà không có ảnh mẹ Ín. Không có bàn thờ riêng như nhà người Kinh. Tôi chỉ biết mẹ cô tên là Phiêng, người họ Quàng ở bản bên, và mất đã hai mươi năm. Mỗi lần tôi hỏi thêm, Ín bảo bố không kể, cô cũng không nhớ gì.
* * *
Một đêm cuối tháng Năm, tôi thức giấc vì thấy chỗ bên cạnh trống.
Màn vén lên một góc. Bếp ủ đỏ lờ mờ dưới lớp tro. Tôi nhìn ra và thấy Ín đang đứng ở đầu nhà, phía cửa phụ. Cô mặc váy ngủ, tóc xõa, hai tay buông thõng. Cô đứng cách cánh cửa chừng một bước chân, mặt hướng vào tấm ván, im như một cái cột.
Tôi gọi khẽ. Cô không quay lại.
Tôi chui ra khỏi màn, bước tới. Sàn ván kêu dưới chân tôi, Ín vẫn không động đậy. Đến gần, tôi thấy mắt cô mở. Mở to, không chớp, nhìn vào cánh cửa như nhìn xuyên qua nó. Môi cô mấp máy. Tôi ghé sát lại nghe. Cô đang ư ử bài hát ấy, nhưng chậm hơn, nhỏ hơn, như đang hát theo một ai đó.
Tay tôi chạm vào vai cô thì lạnh ngắt.
Đúng lúc đó tôi nghe bên kia tấm ván có tiếng thở. Một hơi dài, khàn, rất gần, như người đứng áp mặt vào cửa từ phía ngoài.
Tôi muốn kéo Ín lại mà chân không nhấc lên được.
Một bàn tay đặt lên vai tôi. Ông Pánh. Tôi không nghe thấy ông dậy, không nghe tiếng chân ông. Ông đứng sau lưng tôi, cởi trần, xương sườn nhô lên dưới ánh bếp. Ông bước qua tôi, nắm lấy cổ tay Ín, kéo nhẹ. Ín quay lại theo tay ông, mắt vẫn mở, chân bước như người đi trong nước.
Ông dắt cô về màn, đặt cô nằm xuống, kéo chăn lên ngực cô. Rồi ông quay lại cửa phụ, cúi xuống nhìn ống nước. Ông nói một câu bằng tiếng Thái, giọng nhỏ nhưng cứng, như người ta mắng.
Tôi đứng đó, lạnh từ gót chân lên. Ông quay sang tôi. Lần đầu tiên tôi nghe ông nói tiếng Kinh mà giọng run.
"Chưa đến lượt nó. Bố nói rồi, chưa đến lượt nó."
Ông không nói với tôi. Ông nói với cánh cửa.