Chương 3: Lời bà đỡ Thoong
Khoảng 4 phút đọc·9lượt xem
Sáng hôm sau Ín không nhớ gì. Cô dậy, nhóm bếp, đồ xôi, chỉ kêu mỏi chân như vừa đi nương về. Tôi kể cho cô nghe chuyện đêm qua. Cô nghe xong cười, bảo tôi ngủ mơ. Rồi cô thấy mặt tôi, cô thôi cười.
Ông Pánh đi nương từ sớm. Tôi xin nghỉ công trường một buổi, đi sang nhà bà Thoong.
Bà Lường Thị Thoong ở ngay sau vườn nhà ông Pánh, qua con suối nhỏ, leo một con dốc ngắn là tới. Từ cửa phụ, xuống bảy bậc cầu thang sau, qua vườn, qua cầu tre, chỉ mất hai phút. Nếu đi cầu thang trước thì phải vòng qua chuồng trâu, qua bờ ao, qua cái nương sắn của nhà bên rồi mới vào được lối lên dốc, mất gần mười phút.
Bà Thoong ngoài bảy mươi, làm bà đỡ cho cả bản từ thời chưa có trạm xá. Nửa bản Nà Hừa sinh ra qua tay bà, kể cả Ín. Bà ngồi trên sàn, nhai trầu, váy đen, khăn piêu quấn đầu, mắt kèm nhèm nhưng tai còn thính.
* * *
Tôi ngồi xuống, đưa bà gói chè và bao thuốc. Tôi hỏi về ma nhà.
Bà nhổ bã trầu qua khe sàn, lau miệng bằng vạt khăn rồi mới trả lời. Bà nói tiếng Kinh khá hơn tôi tưởng.
"Ma nhà là người nhà thôi. Bố mẹ, ông bà chết thì về góc hóng ở. Ngày ở trong ấy, ăn khói bếp. Tối tắt bếp thì đi ra, đi vào cửa phụ. Xem trâu. Xuống suối uống nước."
"Thế sao người sống không được đi cửa phụ?"
"Đường người ta. Người ta đang đi, mình chen vào... thì phải trả."
"Trả cái gì hả bà?"
Bà Thoong nhìn tôi lâu. Hàm răng đen của bà nhai chậm.
"Cái gì cũng được. Ma nhà không hại con cháu. Mà không cho không. Bước qua thì nó lấy một cái. Con gà. Cái vía. Cái nó thích."
Tôi kể chuyện Ín đứng trước cửa phụ đêm qua. Kể chuyện ống nước cạn mỗi sáng, tiếng then cửa, mùi trầu. Bà nghe, không ngắt lời. Khi tôi nói đến mùi trầu thì bà ngừng nhai.
* * *
"Nhà ông Pánh, ma nhà khó tính," bà nói. "Chết chưa đến tuổi thì khó tính. Còn tiếc."
"Ai chết chưa đến tuổi ạ?"
Bà không trả lời câu đó. Bà nói sang chuyện khác, rằng Ín đẻ thì bà đỡ cho, đừng đưa lên trạm, đường xa, mùa mưa đi không được. Rồi bà hỏi Ín có mang mấy tháng, bụng nhọn hay bụng tròn, có thèm chua không. Tôi trả lời từng câu. Đến lúc tôi đứng dậy về, bà mới nói thêm một câu.
"Nhà ấy trả một lần rồi. Dặn vợ mày... đừng để trả lần nữa."
Tôi hỏi trả lần nào, trả cái gì. Bà quay mặt vào trong, gọi đứa cháu mang nước ra cho bò. Câu chuyện thế là hết.
Trên đường về, tôi rẽ vào vườn, đi lên cầu thang sau. Bảy bậc gỗ, bậc nào cũng mòn lõm ở giữa vì chân người. Riêng bậc trên cùng mòn khác. Nó lõm thành hai vệt nông ở hai bên, cách nhau chừng một gang tay, như chỗ người ta ngồi lâu năm chứ không phải chỗ người ta bước.
Tôi ngồi thử vào đúng hai vệt ấy. Từ chỗ đó nhìn thẳng xuống cầu tre, xuống con đường tôi vừa đi lên.
* * *
Tối hôm ấy tôi về muộn. Ở công trường có một mối hàn phải làm lại, đến chín giờ mới xong. Tôi chạy xe về bản, trời đã tối hẳn, sương núi xuống trắng cả lối mòn. Đèn xe chỉ chiếu được vài mét.
Tôi dựng xe dưới gầm sàn, phía cầu thang trước. Trong nhà đã tối. Ông Pánh đã ủ bếp. Tôi nhìn lên, qua khe ván không thấy ánh lửa, chỉ một màu đỏ sẫm rất mờ.
Tôi vừa đặt chân lên bậc đầu cầu thang thì nghe tiếng ván kêu ở đầu hồi bên kia.
Tôi đứng im, nhìn dọc theo hông nhà. Từ chỗ tôi đứng, dưới ánh trăng mờ qua sương, có thể thấy góc mảng sàn phơi phía sau. Cửa phụ đang hé. Một khe hở chừng hai ngón tay, đen kịt.
Rồi từ trong khe hở ấy, một bàn tay thò ra, nắm lấy mép cửa.
Bàn tay gầy, trắng nhợt dưới trăng, cổ tay đeo một chiếc vòng bạc to bản, chạm hoa. Nó nắm lấy mép ván, kéo cánh cửa khép lại, rất chậm, không một tiếng động. Chiếc vòng bạc lóe lên một cái trước khi khuất vào bóng tối.
Tôi đứng ở chân cầu thang trước, một tay nắm tay vịn, không nhúc nhích. Ín không đeo vòng bạc. Ín không có chiếc vòng nào như thế.
Tôi leo lên, đẩy cửa trước, bước vào. Ín và ông Pánh đều nằm trong màn, ngủ. Tôi bật đèn pin soi về phía cửa phụ. Then cửa cài chặt từ bên trong, ống nước đầy đến miệng.
Đầy hơn mọi đêm. Nước tràn ra cả ngưỡng cửa.