☾ Truyện Ma Có Thật
← Cửa phụ sau khi tắt bếp

Chương 7: Đêm mưa trở dạ

Khoảng 5 phút đọc·9lượt xem

Đầu tháng Mười, một ông cậu họ Quàng ở bản Phiêng Ban mất. Ông là anh trai của mẹ Ín. Ông Pánh phải sang đưa ma, đường mười tám cây số, qua hai con dốc và một ngầm tràn. Theo lệ, rể và con gái đang mang bụng thì không đi đám ma. Ông đi một mình, dặn đến tối hôm sau mới về.

Trước khi đi, ông đứng ở đầu cầu thang trước, nhìn tôi rất lâu.

"Nhớ lời bố."

Tôi gật. Ông còn đứng thêm một lúc như muốn nói gì nữa, rồi quay đi. Tôi nhìn theo cái lưng gù của ông lẫn dần vào sương núi.

Chiều hôm ấy trời đổ mưa. Mưa núi không rơi từng hạt mà đổ xuống thành từng mảng trắng xóa. Đến tối thì sấm chớp liên hồi, điện lưới mất, tôi thắp đèn dầu. Tôi gọi cho bố vợ, máy không liên lạc được. Sau này tôi mới biết ngầm tràn đã ngập, đường sang Phiêng Ban sạt một quãng dài.

Ín ăn được nửa bát cơm thì kêu mỏi lưng. Còn hơn ba tuần nữa mới đến ngày bà Thoong tính.

Tôi ủ bếp. Rót nước vào ống bương. Têm vụng một miếng trầu theo cách ông Pánh vẫn làm, đặt cạnh ống nước. Tôi không biết khấn tiếng Thái, nên tôi đứng trước cửa phụ, nói bằng tiếng Kinh, rằng con là rể, xin cho vợ con mẹ tròn con vuông. Rồi tôi kéo thử then cửa. Chặt.

* * *

Ín đau thật lúc gần nửa đêm.

Cơn đau đến dồn dập, không như những lần trước. Cô nằm co, bấu vào tay tôi đến mức móng tay cắm vào da. Rồi nước ối vỡ, ướt đẫm chiếu. Cô không kêu. Cô chỉ thở hổn hển, mắt mở trừng trừng nhìn lên mái, môi cắn chặt đến tím lại.

Tôi soi đèn pin. Trong nước ối có lẫn máu. Không nhiều, nhưng có.

Tôi biết mình phải đi gọi bà Thoong. Ngay lập tức.

Tôi chạy ra cửa trước, mở ra. Mưa táp vào mặt. Dưới ánh chớp, tôi nhìn thấy cái sân dưới gầm nhà đã thành một vũng nước đỏ ngầu. Ao cá tràn bờ, nước loang ra lối đi vòng qua chuồng trâu, mặt nước sủi bọt dưới mưa. Không thấy bờ ao ở đâu nữa.

Tôi đứng ở đầu cầu thang trước, tính. Lội qua đó, trong đêm, trong mưa, đến nương sắn, rồi vòng lên dốc. Mười lăm phút. Có khi hai mươi phút. Rồi dắt một bà già bảy mươi tuổi đi lại quãng đường ấy.

Tôi nghĩ đến người đàn bà hỏi mãi sao con không khóc.

Sau lưng tôi, Ín rên lên một tiếng. Lần đầu tiên trong đời tôi nghe cô rên.

* * *

Tôi đóng cửa trước, đi về phía cửa phụ.

Gian nhà dài chừng mười hai mét. Tôi đi qua bếp, qua cái màn của ông Pánh, qua gian hóng tối om với cái giỏ mây treo trên vách. Mỗi bước, sàn ván kêu dưới chân. Đèn pin trong tay tôi run, vệt sáng nhảy trên vách.

Ống bương trước cửa phụ đã cạn. Miếng trầu đã mất. Mới hơn hai tiếng.

Tôi đặt tay lên then cửa. Gỗ lạnh và ẩm. Tôi nghĩ đến lời ông Pánh, lời bà Thoong. Ma nhà không hại con cháu. Ma nhà không cho không.

Tôi kéo then. Cạch. Tiếng ấy tôi đã nghe từ trong màn bao nhiêu đêm, giờ nó bật ra dưới chính tay mình.

Tôi đẩy cửa ra.

Gió và mưa ùa vào. Mảng sàn phơi phía ngoài tối đen, nước chảy ròng ròng trên ván. Tôi soi đèn xuống. Và tôi thấy người đó.

Một người đàn bà ngồi ở đầu cầu thang sau, chắn ngang lối xuống. Ngồi quay lưng về phía tôi, hai chân buông xuống bậc thang, đầu hơi cúi. Áo cóm chàm. Váy đen. Khăn piêu quấn đầu, những tua chỉ màu ở góc khăn rủ xuống vai. Mưa đổ xuống như trút mà áo bà khô, khăn bà khô, mái tóc búi dưới khăn khô nguyên.

Mùi trầu xộc vào mũi tôi, đặc đến nghẹt thở.

Tôi đứng sững ở ngưỡng cửa, một chân trong nhà, một chân trên mảng sàn phơi. Đèn pin chiếu thẳng vào lưng bà. Bà không quay lại. Tôi nghe tiếng bà nhai, chậm, đều, tiếng lá trầu và cau nghiến trong miệng.

Rồi bà nghiêng người sang một bên, nhường lối.

Bà làm điều đó rất từ tốn, như người già nhích sang cho khách đi qua. Một bàn tay chống xuống sàn. Chiếc vòng bạc chạm hoa trên cổ tay ấy lóe lên dưới đèn pin. Khoảng trống bên cạnh bà vừa đủ một người đi.

Tôi bước qua. Vai tôi sượt qua vai bà. Lạnh. Cái lạnh của nước suối giữa mùa đông, thấm qua áo tôi, vào tận xương.

Tôi chạy xuống bảy bậc cầu thang mà không dám quay lại. Đến bậc cuối cùng, tôi nghe bà nói. Giọng khàn, nói tiếng Thái, mấy chữ ngắn. Tôi không hiểu, nhưng tôi nhớ âm thanh của nó như nhớ tên mình.

* * *

Tôi chạy qua vườn, lội qua cầu tre đã ngập đến đùi, leo lên dốc. Tôi đập cửa nhà bà Thoong. Hai phút. Có khi chưa đến hai phút.

Bà Thoong ra cửa, đèn dầu trong tay, nhìn tôi ướt sũng từ đầu đến chân. Bà nhìn về phía con đường tôi vừa chạy lên, phía vườn, phía cửa phụ. Mặt bà sầm lại.

"Mày đi đường ấy."

Tôi gật. Bà không hỏi thêm. Bà quay vào lấy cái túi vải, một nắm gạo, một nắm muối, rồi bám vào vai tôi.

Tôi cõng bà về. Qua cầu tre, qua vườn, lên cầu thang sau. Bà Thoong nhắm chặt mắt suốt quãng đường, miệng lầm rầm, tay vung gạo muối ra hai bên.

Mảng sàn phơi trống trơn. Không có ai ngồi ở đầu cầu thang. Cửa phụ vẫn mở như lúc tôi đi. Ống bương đổ lăn trên sàn. Từ ngưỡng cửa vào trong nhà là một hàng vệt nước, như dấu chân trần ướt, đi thẳng về phía màn của vợ tôi.

Trong màn, Ín không rên nữa. Cô đang ư ử bài ru. Và hòa vào tiếng cô, khàn hơn, già hơn, có một giọng thứ hai ru cùng.