Chương 10: Dĩa tiền trên bàn thờ
Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem
Bà Bảy không bán xôi sáng đó. Cái tủ phủ bạt. Bà ngồi trên ghế nhựa trước một căn nhà cấp bốn giữa hẻm, cửa sắt kéo hé, chỗ có cây mận đưa cành ra. Thấy tôi, bà đứng dậy, kéo cửa, không nói gì, đi vào. Tôi theo.
Nhà một gian, nền gạch bông cũ, bộ bàn ghế gỗ, cái tủ thờ sát tường. Trên tủ thờ hai tấm hình. Một ông cỡ năm mươi, áo sơ mi trắng, hình đã ố. Và một cô gái.
Mặt hơi tròn. Mắt một mí. Cười, hai cái răng khểnh. Tóc dài buông.
Trong hình cô mặc áo khoác vải bò, túi ngực trái thêu một bông cúc vàng nhỏ. Hình chụp ngoài trời, nắng, khô ráo. Trước hình có dĩa trái cây, ly nước, và một gói xôi đậu xanh còn nóng, lá chuối còn xanh. Bà cúng con bằng xôi của bà mỗi sáng.
Bà Bảy thắp ba cây nhang, cắm, rồi quay lại ngồi xuống ghế đối diện tôi.
"Con Thảo. Con gái tui. Mười bốn tháng Chín, năm mười sáu. Mới hai mươi bốn."
Tôi ngồi. Tay tôi để trên đùi, tôi phải nhìn xuống để chắc là nó không run.
"Ba năm nay, gần rằm là nó nhắn. Số cũ của nó. Má ơi con sắp về, có xe chở. Con về trễ má đừng chờ. Tui đọc là biết nó. Nó gõ hổng dấu, chữ má có một chữ m. Mà cái điện thoại nó thì nằm đây nè."
Bà mở ngăn kéo tủ thờ, lấy ra một cái hộp giấy. Trong hộp: một cái điện thoại màn hình nứt chằng chịt, pin phồng, một chùm chìa khoá, một đôi bông tai bằng bạc. Đồ công an trả.
"Hết pin từ bữa đó. Tui chưa sạc lần nào. Vậy mà nó nhắn."
Bà để cái hộp lên bàn, rồi chỉ lên tủ thờ, cái dĩa sứ nhỏ đặt trước tấm hình.
"Còn cái này."
Tôi đứng dậy, bước tới. Trên dĩa là một xấp tiền lẻ. Hai chục, mười ngàn, năm ngàn, hai ngàn, một ngàn. Gấp tư. Dính vào nhau.
Ướt.
"Tiền trong túi áo nó. Công an trả chung với cái điện thoại. Ướt. Tui lau, tui đem phơi nắng... hổng khô. Ông thầy nói thôi đừng đụng, để đó, nó cần. Ba năm rồi, y vậy."
Tôi nhìn tờ hai ngàn trên cùng. Góc trái trên rách một miếng hình tam giác. Bên cạnh vết rách, một chữ K mực bi loang.
Chữ tôi viết hai tuần trước, trong phòng trọ, lên tờ tiền cô vừa trả tôi.
Tôi phải vịn vào cạnh tủ thờ.
* * *
Bà Bảy kể. Giọng đều, không khóc, mắt nhìn tấm hình chứ không nhìn tôi.
"Nó làm quán hủ tiếu, một giờ mới tan. Bữa đó mưa, kêu xe hổng được, nó đi bộ dọc đường ray về. Tới chân cầu sắt, chỗ tối thui đó... xe đụng."
"Công an nói xe tải nhỏ. Loại năm tạ. Tại chỗ đó gạch tàu vụn rớt đầy, đỏ lòm mặt đường. Xe chở gạch về vựa ban đêm. Mà bên Thủ Đức xe đó cả trăm chiếc. Hổng ai thấy. Kiếm hai tháng rồi thôi."
"Ông Tư thấy nó lúc ba giờ. Còn thở. Lên xe cứu thương, gần tới Hàng Xanh thì nó đi. Nằm đó cả tiếng rưỡi, người ta nói. Dưới mưa. Một mình nó."
"Tui nhận ra nó nhờ cái bông cúc. Tui thêu."
Bà ngừng. Tôi ngồi lại xuống ghế, vì chân tôi không đứng được nữa.
"Tui hổng trách ai. Trách tui. Tui biểu nghỉ quán hoài, nó hổng chịu, nói để dành mua cho tui cái tủ xôi mới. Cái tủ đó đó."
Bà chỉ ra đầu hẻm.
"Nó mua trước khi mất một tháng."
* * *
Tôi ngồi với bà Bảy cho tới trưa. Bà pha trà, tôi không uống được. Bà nói về Thảo hồi nhỏ, về cây mận Thảo trồng năm lớp sáu, về ông chồng mất sớm. Tôi nghe hết. Tôi không nói gì về tôi. Tôi không nói được.
Lúc tôi đứng dậy xin phép về, bà nắm tay tôi. Tay bà khô, nóng, ngược hẳn với tay cô.
"Mấy bữa nay chú chở nó hả. Nó nhắn vậy. Cảm ơn chú nghen. Ba năm... mới có người chịu chở nó."
Tôi nói dạ. Tôi muốn nói thêm một câu, câu đó nằm ngay sau răng tôi. Tôi không nói.
Tôi ra tới đầu hẻm, dắt xe, thì bà gọi với theo. Bà đứng ở cửa, một tay vịn cửa sắt.
"Mà chú nè. Hồi khuya nó còn nhắn thêm một câu. Tui hổng hiểu. Chú coi chú hiểu hông."
Tôi đứng chờ.
"Nó nhắn: má đừng lo, con còn thiếu ảnh một cuốc."