Chương 1: Đôi dép cánh sen
Khoảng 5 phút đọc·2lượt xem
Làng tôi tên là Thượng Đồng, nằm trong một xã ven sông Trà Lý thuộc huyện Kiến Xương, Thái Bình. Đất chiêm trũng, quanh năm nước. Sau lưng làng là đầm Lác, một vùng ruộng thấp mùa nào cũng ngập quá đầu gối, bờ vùng chạy ngang dọc như những sợi chỉ đen trên mặt gương. Nhà tôi ở xóm Đông, cuối ngõ, sát mép ao, sau ao là đầm.
Năm 1998 tôi mười sáu tuổi, học lớp mười trường cấp ba huyện. Chị tôi là Nhài, hơn tôi bốn tuổi. Chị không học hết cấp hai, ở nhà nhận hàng thêu của hợp tác xã về làm. Ngày nào chị cũng ngồi ở hiên, khung thêu kê lên đùi, kim chỉ cắm đầy một miếng xốp. Chị thêu khăn trải bàn, thêu áo gối cho người ta xuất đi đâu không ai biết.
Tháng Chạp năm ấy, nhà tôi nhận lời cho nhà bà Lừng sang hỏi chị.
Bà Lừng có lò gạch ở mép đầm Lác, giàu nhất xã. Con trai bà là anh Chiến, ba mươi tuổi, đã một đời vợ. Tôi biết vì sao bố tôi gật. Năm trước bố ngã giàn giáo ở công trình trên tỉnh, gãy xương hông, phải xuống Hà Nội mổ. Tiền mổ là bảy chỉ vàng vay của bà Lừng. Cả nhà biết, không ai nói ra.
Chị Nhài không cãi. Chị chỉ ngồi thêu nhiều hơn, thêu đến khuya, đèn dầu để sát mặt.
Lễ ăn hỏi định vào ngày mười sáu tháng Giêng. Đêm mười bốn, chị Nhài đi đâu đó và không về.
Sáng rằm, người ta tìm thấy chị trong một cái hố lấy đất của lò gạch nhà bà Lừng, ở mép đầm. Hố ấy mùa khô thì người ta xúc đất đóng gạch, mùa mưa thì nước đầm tràn vào, sâu quá đầu người lớn. Chị nổi lên ở giữa hố, tóc xoã trên mặt nước, áo nâu sẫm lại vì ướt.
Trên bờ hố, cách mép nước chừng một sải tay, có một đôi dép nhựa màu cánh sen. Xếp ngay ngắn, hai chiếc sát nhau, mũi quay ra phía nước.
Tôi không quên đôi dép ấy. Nó mới quá. Quai còn bóng, đế chưa mòn. Cả làng đi dép tổ ong, dép cao su đen, chỉ có chị tôi đi một đôi dép màu cánh sen như con gái ngoài phố. Chị bảo chị mua ở chợ Bo hồi trước Tết, bằng tiền thêu.
Người làng nhìn đôi dép rồi nhìn nhau. Ở quê tôi người ta bảo, người trượt chân chết đuối thì dép văng mỗi chiếc một nơi. Dép xếp ngay ngắn trên bờ là người tự mình bước xuống. Tôi nghe bà Tẹo bán nước chè đầu đình nói nhỏ với ai đó: "Con bé không muốn lấy thằng Chiến. Tội nó."
Bố tôi đứng ở bờ hố, chống cái nạng gỗ, không khóc. Bố bảo người ta: "Nó trượt chân. Đêm tối, bờ trơn, nó trượt chân." Bố nói ba lần, với ba người khác nhau, giọng như đọc bài.
Đám ma chị làm vội, vì chết đường chết sá thì không để lâu. Hôm đưa chị ra đồng, trời mưa phùn. Lúc quan tài vừa khiêng ra cổng, tôi thấy ở đầu ngõ có một người con trai đứng dưới gốc xoan. Anh ta ướt sũng, không đội nón, tay cầm cái nón mê vò nát. Tôi nhận ra anh Thịnh, con ông Quý bên xóm Đoài. Anh không vào. Người họ Đỗ bên xóm Đoài không bao giờ bước vào cổng nhà họ Phạm chúng tôi.
Hai họ ghét nhau từ thời cải cách ruộng đất. Tôi chỉ biết có thế. Ông nội tôi làm gì đó với cụ nhà bên ấy, cụ bên ấy chết, rồi từ đấy hai họ không nhìn mặt nhau. Đám cưới không mời, đám ma không đến, ngoài đồng gặp nhau thì tránh sang bờ khác.
Bố tôi nhìn thấy anh Thịnh. Bố dừng lại, quay đầu nạng chỉ ra ngõ:
"Về. Đây không có việc của nhà mày."
Anh Thịnh không về. Anh đứng ở đấy cho đến lúc đoàn đưa ma đi khuất sau lũy tre.
Sau ba ngày, u tôi đem đôi dép cánh sen vào phòng thờ.
Nhà tôi là nhà ba gian lợp ngói, bên cạnh có một dãy nhà ngang. Đầu nhà ngang là phòng thờ, một gian nhỏ có cửa sổ song gỗ nhìn ra ao. Gian bên cạnh là buồng cô Lụa, em gái bố, bốn mươi lăm tuổi chưa chồng, ở với nhà tôi từ ngày ông bà mất. Ban thờ nhà tôi là cái án gian gỗ mít, bên trên có bát hương các cụ, giờ thêm một cái bát hương mới và tấm ảnh chị Nhài chụp ở hiệu ảnh thị trấn hồi mười tám tuổi.
U đặt đôi dép dưới gầm án gian, mũi quay vào trong, gót quay ra cửa. U bảo:
"Để thế cho nó biết đường về nhà."
Sáng hôm sau, tôi bưng nước vào thay. Đôi dép đã quay ngược lại. Mũi hướng ra cửa, gót hướng vào trong, hai chiếc vẫn sát nhau, ngay ngắn như lúc ở bờ hố.
Tôi tưởng u đổi ý. Tôi hỏi, u bảo không. Hỏi cô Lụa, cô lắc đầu. Bố thì đi lại còn khó, không vào phòng thờ bao giờ.
U lặng đi một lúc rồi cúi xuống, quay đôi dép lại. Sáng hôm sau nữa, dép lại quay ra cửa. Sáng thứ ba cũng thế. Không xê dịch chỗ nào khác, chỉ quay mũi ra, như người ngồi ở bậu cửa xỏ dép sẵn để đi.
U không quay lại nữa. U ngồi bệt xuống nền gạch phòng thờ, nhìn đôi dép rất lâu. Tối hôm ấy u đi sang xóm Chùa.
Gần nửa đêm u về, theo sau là bà Mão. Bà Mão là bà đồng già nhất xã, nhai trầu suốt, xem ngày cưới, gọi vía trẻ con, làng nào có người chết đường chết sá cũng mời bà sang. Bà vào phòng thờ, không thắp hương, chỉ đứng nhìn đôi dép. Rồi bà ngồi xuống chiếu, nhắm mắt, môi mấp máy. Ngoài ao, ếch nhái đang kêu inh ỏi bỗng tắt cả một lượt.
Lâu lắm, bà Mão mở mắt, nhổ bã trầu vào cái ống bơ mang theo, nói với u tôi bằng cái giọng khàn như người vừa đi bộ xa về:
"Nó không đi đâu cả đâu. Nó đòi đi lấy chồng."