☾ Truyện Ma Có Thật
← Đám cưới trong phòng thờ

Chương 2: Lá sớ đỏ

Khoảng 5 phút đọc·2lượt xem

Bà Mão ngồi lại đến gần sáng. U tôi pha ấm chè thứ ba thì bà mới nói hết.

Theo bà, chị Nhài chết khi đang sắp về nhà chồng, vía còn dở dang giữa hai cửa. Người chết như thế không chịu nằm yên. Không cho nó đi lấy chồng thì nó cứ đi ra đi vào, rồi kéo theo người trong nhà. Bà nói đến đấy thì liếc sang bố tôi đang ngồi ở bậc cửa, chân duỗi thẳng vì không co được.

U hỏi lấy ai. Người chết thì lấy ai.

"Lấy người chết. Con trai chết trẻ chưa vợ. Làng nào chả có."

Bà Mão nhắm mắt lại, lần mấy đốt ngón tay. Một lúc bà nói tiếp, chậm từng tiếng một:

"Nó bảo nó muốn về bên họ Đỗ. Bên ấy có người đang đợi nó."

Bố tôi đứng bật dậy, quên cả cái hông. Bố chống tay vào khung cửa, mặt tái đi.

"Bà nói lại xem."

Bà Mão không nói lại. Bà nhổ bã trầu, đứng lên, bảo u tôi nghĩ đi rồi sang báo bà. Lúc ra đến sân, bà quay lại, nói với tôi, không phải với bố mẹ tôi: "Đôi dép ấy đừng ai xỏ vào. Của nó đấy."

Cả tuần sau, nhà tôi như có người ốm nặng. Bố không ăn, chỉ hút thuốc lào. U khóc một mình ở bếp. Sáng nào đôi dép dưới gầm án gian cũng vẫn quay mũi ra cửa. U không động vào nữa.

Họ Đỗ bên xóm Đoài chỉ có một người con trai chết trẻ chưa vợ đã thành người lớn. Đó là anh Đỗ Văn Lượng, liệt sĩ, hy sinh năm bảy hai ở Quảng Trị, năm ấy hai mươi mốt tuổi. Anh là em ruột ông Quý, tức là chú ruột của anh Thịnh. Không vợ, không con, bát hương anh đặt ở nhà thờ họ Đỗ đầu xóm Đoài, ngày giỗ thì họ góp nhau cúng.

Chính ông Quý sang nhà tôi trước.

Đấy là lần đầu tiên tôi thấy một người họ Đỗ đứng trong sân nhà mình. Ông ngoài sáu mươi, gầy, áo đại cán bạc màu, tay cầm cái điếu cày như cầm gậy. Ông đứng ở giữa sân, không ngồi, không uống nước. Ông nói với bố tôi mà mắt nhìn xuống chân:

"Em tôi nó đi bộ đội năm mười chín, chưa biết mặt đàn bà. Cho nó có người hương khói cùng, cũng là phúc cho cả hai bên."

Bố tôi im lâu lắm. Rồi bố nói một câu mà tôi nhớ mãi, vì nó không giống bố:

"Sống thì không cho chúng nó nhìn mặt nhau. Chết rồi lại gả cho nhau. Ông nghĩ có buồn cười không?"

Ông Quý không cười. Ông gật đầu, như thể đã nghe câu ấy từ trước và đã nghĩ kỹ rồi.

Người phản đối duy nhất là cô Lụa. Hôm nghe bố nhắc tên anh Lượng, cô đang bưng mâm cơm. Cái mâm tuột khỏi tay, bát đĩa vỡ tung trên nền gạch. Cô không nhặt. Cô đi thẳng vào buồng, cài then. Tối ấy tôi nằm ở nhà trên vẫn nghe tiếng cô khóc qua vách, khóc như người mất của.

Sáng ra cô bảo bố: "Anh làm thế thì em không ở cái nhà này nữa." Bố bảo cô dở người. Cô không đi đâu cả, nhưng từ hôm ấy cô không bước vào phòng thờ nữa.

Lễ cưới làm sau bốn mươi chín ngày của chị, vào một buổi chiều cuối tháng Hai, trời âm u như sắp mưa mà không mưa. Bà Mão bảo chưa đủ trăm ngày, vía con bé còn quyến nhà, rước đi nó không theo. Nên làm ngược với đời: nhà trai đưa chú rể sang ở nhà gái cho đủ trăm ngày, rồi mới rước cả đôi về nhà thờ họ Đỗ.

Nhà trai sang có bảy người. Đi đầu là anh Thịnh.

Anh mặc áo sơ mi trắng, quần âu đen, đầu đội cái mũ cối của chú. Hai tay anh bưng một khay gỗ sơn đỏ, trên khay là tấm bài vị viết chữ Hán và tấm ảnh anh Lượng. Ảnh truyền thần đã ố, người lính trẻ đội mũ có sao, mặt tròn, mắt hiền, cười rất nhẹ. Bà Mão bảo người đi bưng chú rể phải là người cùng máu, ít tuổi, chưa vợ. Họ Đỗ chỉ có anh Thịnh.

Lễ vật đặt lên án gian: một buồng cau, một cơi trầu, một chai rượu trắng, một bộ áo cô dâu bằng giấy màu đỏ, một đôi hài giấy. Bà Mão viết tên hai người lên tờ sớ đỏ, đọc to, rồi đốt trong cái chậu thau. Tàn giấy bay lên, dính vào khung ảnh chị Nhài.

Đến lúc hỏi, bà Mão nhìn anh Thịnh:

"Chú rể có ưng không?"

Người bưng chú rể phải đáp thay. Anh Thịnh mở miệng, không ra tiếng. Ông Quý đứng sau đẩy nhẹ vào lưng con. Anh nói: "Ưng." Tiếng nói vỡ ra như cái bát rạn.

Tôi đứng sát cửa phòng thờ nên tôi thấy. Hai bàn tay anh bấu chặt lấy cạnh khay đến trắng cả đốt ngón. Nước mắt anh rơi xuống mặt kính tấm ảnh chú, mà anh không lau. Người trong họ thì thào khen thằng Thịnh thương chú. Nhưng suốt cả buổi lễ, anh không nhìn tấm ảnh chú lấy một lần. Anh nhìn tấm ảnh chị tôi.

Bài vị và ảnh anh Lượng được đặt lên án gian, ngay cạnh ảnh chị. Hai tấm ảnh nghiêng vào nhau. Bà Mão bảo thế là thành đôi.

Đêm hôm ấy tôi ngủ ở nhà trên, cạnh u. Gần khuya, tôi tỉnh dậy vì u nắm chặt cổ tay tôi.

"Hạnh. Nghe xem."

Từ dãy nhà ngang vọng sang một tiếng thì thầm. Rất nhỏ, như người nói chuyện qua tấm chăn. Có tiếng đàn ông, trầm và đứt quãng. Có tiếng chị Nhài. Rồi chị cười.

Đúng tiếng chị. Khúc khích, nén lại trong cổ họng, như hồi chị còn bé bị bố mắng mà không nhịn được cười.

U tôi khóc, nhưng là khóc mừng. U lay bố dậy. Bố nằm nghe một lúc, rồi quay mặt vào tường. U nói rất khẽ: "Hai đứa nó hợp nhau, ông ạ. Bà Mão nói đúng."

Tôi nằm im nghe cho đến khi tiếng thì thầm tắt hẳn.

Tôi không nói với u điều tôi vừa nhận ra. Suốt cả đêm, tiếng đàn ông chỉ thì thầm. Chỉ có một người cười.