☾ Truyện Ma Có Thật
← Đám cưới trong phòng thờ

Chương 10: Trả lại cái hẹn

Khoảng 5 phút đọc·2lượt xem

Bố tôi đi xuống bờ ao. Bố đi nhanh đến mức cái nạng gỗ cắm vào đất ướt kêu phập phập. Anh Thịnh nhìn thấy bố thì không đứng dậy. Anh quỳ xuống vũng bùn.

Bố giơ cái nạng lên. Nạng phang xuống vai anh một cái, đánh thịch như đánh vào bao thóc. Anh không tránh. Bố giơ lên lần nữa, rồi để đấy, rồi hạ xuống.

"Nó gọi mày à?"

Anh Thịnh gật đầu. Bố tôi đứng nhìn anh rất lâu. Rồi bố quay lưng, đi lại bậc thềm nhà ngang, ngồi xuống cạnh cô Lụa. Cả nhà ngồi như thế đến sáng. Trong phòng thờ, không còn tiếng thì thầm nữa.

Sáng mười hai tháng Tư, họ Đỗ sang với một cái kiệu sơn son nhỏ, ông Quý đi đầu. Đến cổng thì ông dừng lại. Anh Thịnh đứng chắn ở giữa ngõ, quần áo vẫn còn bùn khô từ đêm.

Anh quỳ xuống trước mặt cả hai họ và kể lại. Từ gốc gạo, đôi dép, cái kho thóc khoá trái, đến cái hố lò gạch. Anh kể chậm, không khóc.

Ông Quý định quát con. Nhưng ông nhìn thấy cô Lụa đứng ở bậc thềm, tay ôm cái hộp sắt bánh quy. Ông ngồi xuống bờ gạch đầu ngõ như người hết hơi.

"Tôi khoá nó. Tôi sang gặp bà Mão. Tôi bảo bà ấy nói tên em tôi."

Ông nhìn bố tôi, giọng nghẹn lại.

"Bố anh chỉ tay vào mặt bố tôi. Tôi khoá trái con tôi. Hai nhà mình, mỗi bên giết một đứa."

Bà Mão đến muộn, nghe xong thì nhổ bã trầu, bảo ghép sai thì phải tháo. Bà cắt đôi tờ sớ cưới, viết tờ sớ khác, đốt đi. Bài vị và ảnh anh Lượng được đặt lại vào kiệu, rước về nhà thờ họ Đỗ. Bát hương chị tôi ở lại.

Cô Lụa đi theo sau kiệu, hai tay ôm cái hộp thư. Cô đi suốt từ xóm Đông sang xóm Đoài. Đến nhà thờ họ Đỗ, ông Quý đứng nép sang một bên cho cô vào. Bốn mươi ba năm, đấy là lần đầu tiên một người họ Phạm bước qua cửa nhà ấy.

Còn anh Thịnh, bà Mão bảo người sống không gả cho người chết được, gả thì người sống không sống nổi. Anh phải trả lại cho chị cái hẹn. Đêm nay ra gốc gạo đầu bờ vùng, mang đôi dép, đợi đến sáng, như lẽ ra anh phải đợi đêm mười bốn. Cái khăn mùi xoa thì phải trả lại.

"Của đính ước còn trong tay mày thì nó còn đợi mày. Trả nó, cho nó đi."

Đêm ấy tôi với cô Lụa đi theo anh ra đầm. Bà Mão dặn người nhà được đứng xa, không được gọi, không được soi đèn. Hai cô cháu ngồi trên bờ ruộng cách cây gạo chừng ba chục bước. Anh Thịnh ngồi dưới gốc gạo, đôi dép cánh sen đặt trước mặt, mũi quay về phía đầm. Chiếc khăn mùi xoa gấp tư, đặt trong lòng chiếc dép bên phải.

Đầm Lác ban đêm rộng mênh mông. Ống khói lò gạch nhà bà Lừng nhô lên phía xa như một ngón tay.

Ếch nhái tắt cả một lượt. Sương từ mặt nước bốc lên, dày dần, ngập đến ngang gối. Mùi nhài đến, lẫn mùi bùn, lạnh như nước giếng khơi.

Trên bờ vùng phía lò gạch có người đi lại.

Một bóng người mặc áo nâu, tóc xoã, đi chân trần. Chị đi chậm trên con bờ đất trơn, hai tay dang ra giữ thăng bằng như người con gái quen lội đồng. Đến cách gốc gạo vài bước, chị dừng lại.

Anh Thịnh đứng dậy. Anh nói, giọng run mà rõ:

"Anh đến rồi đây, Nhím. Anh đến muộn. Anh xin lỗi."

Lâu lắm, không có gì. Rồi đôi dép cánh sen trước mặt anh lún xuống đất một chút. Hai cái đế nhựa mỏng ấn sâu vào bùn, như có hai bàn chân vừa xỏ vào. Cái khăn mùi xoa trong lòng chiếc dép bên phải không còn.

Tôi nghe thấy tiếng chị cười. Khúc khích, nén trong cổ họng. Một lần. Rồi chị nói, dịu dàng, như mọi đêm:

"Anh về đi. Sương xuống rồi."

Anh Thịnh không về. Anh ngồi xuống lại dưới gốc gạo và ngồi đến sáng. Cô Lụa nắm tay tôi chặt đến đau.

Lúc trời rạng, sương tan. Đôi dép vẫn nằm dưới gốc gạo, đế dính bùn. Nhưng mũi dép không còn quay ra đầm. Nó quay về phía xóm Đông, về phía nhà tôi. Chiếc khăn mùi xoa không ai tìm thấy nữa.

Tôi mang đôi dép về, rửa sạch, đặt dưới gầm án gian, mũi quay vào trong. Sáng hôm sau, mũi dép vẫn quay vào trong. Từ đấy đến nay không xê dịch.

Phòng thờ nhà tôi yên từ đêm ấy. Không tiếng thì thầm, không tiếng cười, không ảnh úp mặt.

Bố bán ba sào ruộng đầu đầm, trả đủ bảy chỉ vàng. Năm sau, nhà bà Lừng xúc đất ruộng ấy làm gạch, đào thành một cái hố mới. Giỗ đầu chị, rằm tháng Giêng năm chín chín, ông Quý sang thắp hương. Hai ông già ngồi ở hiên uống hết một chai rượu, không ai nói với ai câu nào. Năm 2003 ông Quý mất. Bố tôi chống gậy đi đưa ông ra đồng.

Cô Lụa mất năm 2009, năm mươi sáu tuổi. Sau bốn mươi chín ngày, hai họ làm lễ kết duyên cho cô với anh Lượng. Bài vị cô đặt cạnh bài vị anh ở nhà thờ họ Đỗ. Hộp thư chôn theo cô.

Anh Thịnh ra Cẩm Phả làm than mười một năm. Năm 2010 anh về, lấy một người góa chồng ở xã bên, có một đứa con gái. Anh chưa bước vào cổng nhà tôi lần nào nữa.

Bây giờ tôi bốn mươi hai tuổi, mở quán tạp hóa ở đầu chợ xã, vẫn giữ phòng thờ nhà ngang. Đôi dép cũ đã giòn, quai nứt, tôi vẫn để nguyên dưới gầm án gian.

Năm nào cũng vậy, sáng rằm tháng Giêng, ở cổng nhà tôi có một đôi dép nhựa mới, màu cánh sen, không kèm lời nào. Tôi biết ai để. Tôi đặt đôi dép mới cạnh đôi cũ, mũi quay vào trong.

Và sáng hôm sau, bao giờ đôi mới cũng đã có người đi. Đế ẩm, kẽ quai dính một chút bùn đầm, thoảng mùi nhài. Như vừa có ai ra gốc gạo đầu bờ vùng ngồi cả đêm, rồi về.