☾ Truyện Ma Có Thật
← Đám cưới trong phòng thờ

Chương 9: Người đứng thay

Khoảng 5 phút đọc·2lượt xem

Tôi chui ra khỏi đống rơm. Rơm khô gãy rào rạo. Que diêm trong tay anh Thịnh tắt phụt. Anh quay phắt lại, cả người co lại như con chó bị đánh, nhưng không chạy.

Tôi đi đến chỗ anh, chân trần giẫm lên cỏ ướt. Anh ngồi xổm dưới cửa sổ, nước từ quần áo còn nhỏ tong tong. Một tay anh vẫn nắm song cửa. Tay kia nắm một cái gì đó gói trong mảnh ni lông.

"Hạnh à."

Anh không hỏi tôi làm gì ở đấy. Anh nói tên tôi như người đã đợi bị bắt từ lâu.

Bên trong song cửa, tiếng thì thầm của chị tôi đã tắt. Mùi nhài vẫn đậm. Cửa phòng thờ kẹt mở, rồi có tiếng chân đi vòng ra sau nhà ngang. Cô Lụa đứng ở góc tường, tay bám vào cột hiên, nhìn anh Thịnh.

Anh Thịnh ngồi bệt xuống bùn. Anh kể. Giọng anh khàn, đặc, kể như người kể chuyện của ai khác.

Anh với chị Nhài thương nhau ba năm. Gặp nhau lần đầu ở bờ đê sông Trà Lý, chỗ gốc gạo, hôm chị đi giao hàng thêu bị tuột xích xe đạp. Anh gọi chị là Nhím vì chị hay cáu, động một tí là xù lông lên. Hai đứa chỉ gặp nhau ở gốc gạo, mỗi tháng vài lần, lúc chiều tối.

"Nó dặn anh đừng bao giờ sang nhà nó. Nó bảo bố nó mà biết thì bố nó chết."

Đôi dép cánh sen là anh mua ở chợ Bo, hai mươi lăm nghìn, tiền đi phụ hồ ba ngày. Chị quý đôi dép lắm. Chỉ đi lúc gặp anh. Đường nào có bùn thì chị cởi ra cầm tay, đi chân đất, đến chỗ khô mới xỏ vào. Anh bảo dép mua để đi chứ có phải để thờ đâu, chị không nghe.

Anh mở mảnh ni lông trong tay ra. Bên trong là một chiếc khăn mùi xoa trắng, gấp tư, và một bông nhài. Góc khăn thêu một cành nhài nhỏ bằng chỉ trắng. Anh lật cho tôi xem. Giữa hai cánh hoa, nếu nhìn kỹ, có hai chữ cái thêu lẫn vào gân lá. T và N.

"Nó thêu cho anh. Bảo anh đi đâu cũng phải mang."

Tháng Chạp, nhà tôi nhận lời bà Lừng. Chị không cãi bố. Chị hẹn anh ra gốc gạo, bảo anh hoặc đưa chị đi, hoặc thôi. Anh bảo đi. Hai đứa định đêm mười bốn tháng Giêng gặp nhau ở cây gạo đầu bờ vùng, mép đầm Lác, đạp xe ra bến phà Tân Đệ, sang Nam Định, bắt tàu vào Nam. Anh có người quen làm gạch ở Bình Dương.

Tối mười bốn, bố anh tìm thấy cái túi quần áo anh giấu trong bồ trấu.

Ông Quý không hỏi gì. Ông lôi anh vào kho thóc, đánh bằng cái đòn gánh đến lúc anh ngã quỵ, rồi khoá trái cánh cửa gỗ lim lại. Ông đứng ngoài cửa, nói vọng vào: "Mày lấy con cháu thằng ấy thì tao chết cho mày xem. Ông mày chết vì nhà ấy chưa đủ à?"

Anh phá được cửa kho lúc gà gáy đợt hai. Anh chạy ra gốc gạo đầu bờ vùng. Không có ai. Anh lần theo bờ vùng về phía xóm Đông, gọi khẽ, không ai thưa. Đến chỗ hố lò gạch thì anh thấy đôi dép.

Hai chiếc xếp sát nhau trên bờ, mũi quay ra nước. Ngay ngắn. Như mọi lần chị cởi ra trước khi lội bùn.

"Nó không tự tử đâu, Hạnh. Nó đợi anh không thấy, nó lội tắt qua đầm sang xóm Đoài tìm anh. Đoạn bờ vùng ấy người ta xúc đất làm gạch, sụt mất một khúc. Đêm tối, nước lên. Nó không biết bơi."

Anh nhảy xuống hố. Anh lặn đến lúc chuột rút cả hai chân, mò khắp đáy bùn, không thấy chị. Rồi trời sáng dần, có tiếng người ra thăm đó ở đầu đầm. Anh bò lên bờ. Anh chạy.

"Anh chạy về nhà. Anh là thằng hèn. Sáng ra người ta vớt nó lên, cả làng bảo nó tự tử vì không muốn lấy thằng Chiến. Anh biết nó không tự tử. Anh không dám nói."

Cô Lụa ở góc tường nói khẽ một câu gì đó, tôi không nghe được.

Anh Thịnh kể tiếp. Hôm bà Mão nói chị đòi về họ Đỗ, có người bên ấy đang đợi, anh biết ngay là chị nói đến anh. Bố anh cũng biết. Chính ông Quý đi sang xóm Chùa gặp bà Mão trước, bảo bà rằng họ Đỗ chỉ có một người chết trẻ chưa vợ. Ông bảo thà gả nó cho người chết, còn hơn để cả làng biết con gái họ Phạm chết vì con trai họ Đỗ.

"Ông bắt anh đứng thay chú. Ông bảo mày đứng đấy mà trả nợ cho nó."

Từ đêm lễ cưới, đêm nào anh cũng lội qua đầm sang đây. Anh ngồi dưới cửa sổ, nói chuyện với chị qua song gỗ. Anh nghe được chị. Chị cười, chị trách, chị kể chuyện thêu thùa như hồi ở gốc gạo. Nhưng câu nào rồi cũng quay về một câu.

"Nó hỏi sao anh không đến. Đêm nào cũng hỏi. Anh bảo anh bị nhốt, nó không nghe. Nó cứ hỏi."

Bông nhài trên song cửa là anh ngắt trong vườn nhà anh, ở cây nhài già sát bờ rào. Anh bảo cây ấy chú Lượng trồng trước khi đi bộ đội. Cả nhà anh không ai dám chặt.

Cô Lụa bám tay vào cột hiên, trượt dần xuống, ngồi bệt trên bậc thềm.

Anh Thịnh nói nốt. Cái đêm tôi nằm trong phòng thờ, chị đẩy một chiếc dép qua kẽ song cho anh. Chị bảo anh cầm lấy, đi trước, chị đi sau. Anh không dám cầm. Anh sợ. Chiếc dép rơi xuống vũng bùn.

"Mai người ta rước nó sang nhà thờ họ, đặt cạnh chú. Nó ngồi bên ấy đợi anh. Đợi đến bao giờ?"

Anh nhìn lên cửa sổ phòng thờ. Tôi nhìn theo. Trong bóng tối sau song gỗ, có một khuôn mặt trắng đang áp vào giữa hai song.

Rồi tiếng chị tôi vang lên. Không thì thầm nữa. To, rõ, chói trong đêm như tiếng gọi đò, vọng ra khắp ao, khắp vườn, sang đến tận nhà trên:

"Thịnh ơi."

Nhà trên bật đèn. Cánh cửa bức bàn mở ra. Bố tôi đứng ở hiên, chống nạng, mặt trắng bệch dưới ánh đèn dầu, nhìn ra phía ao.