Chương 1: Về xứ lò
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Nhà tôi có ba cái lò gạch ở xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, ngay mé kinh Thầy Cai. Hai bên bờ toàn lò là lò, cái nào cũng tròn ủm như cái lu khổng lồ úp xuống đất, đỏ au, khói trấu bay là đà. Ở đây ai cũng sống bằng gạch, ngủ trong mùi trấu cháy, sáng ra phủi bụi đỏ trên mùng.
Ba tôi là ông Tư Lành, chủ lò. Má tôi coi bếp cơm cho thợ với sổ sách tiền trấu. Tôi là con một, học kế toán dưới Cần Thơ bốn năm, tháng Bảy năm 2014 ra trường. Ba gọi điện nói về phụ ba coi sổ, lò dạo này mối nhiều, má rối hết. Tôi về, xách theo cái va li với tấm bằng còn thơm mùi giấy.
Sân lò rộng chừng nửa công đất, nền đất nện cứng như xi măng. Gạch mộc mới đùn ra từ máy được xếp thành hàng dài, so le như răng lược, phơi nắng cho se mặt rồi mới chất vô lò. Lò số một với lò số hai đang chạy, cách nhau một khoảng sân. Lò số ba nằm riêng ở góc trong, sát bờ ao, không còn đốt từ hồi tôi còn nhỏ xíu.
Tôi nhớ lò số ba từ hồi đó đã vậy. Miệng lò bị xây bít bằng gạch thẻ, xây không đều, chỗ dày chỗ mỏng, trát hồ dày cộm. Dây bìm bìm với cỏ hôi mọc trùm lên nửa cái vòm. Ba nói vòm nứt, đốt nữa là sập, bít lại cho tụi nhỏ khỏi chui vô.
Dưới chân lò số ba có một cái miễu ông Địa nhỏ bằng gạch, ba thắp nhang ở đó mỗi sáng. Ba thắp ở đó trước, rồi mới ra miễu lớn đầu sân.
Thợ nhà tôi năm đó chừng mười hai người. Phân nửa là người Kinh trong xã, phân nửa là người Khmer dưới Trà Vinh lên làm theo mùa, ở trong mấy cái trại lá sau lò. Có vợ chồng anh Danh Sơn làm cho nhà tôi lâu nhất, từ hồi tôi học cấp ba. Anh Sơn coi máy đùn, chị Sóc vợ anh chất gạch. Ở cổng lò, cạnh cái bảng tên lò, ba đóng một tấm ván sơn chữ đỏ: "Cấm dẫn con nít vô lò". Mấy trại lò khác không ai đóng bảng đó.
Tôi hỏi ba sao lò mình kỹ dữ vậy. Ba nói con nít chạy giỡn, gạch đổ đè chết, ai chịu.
Tuần đầu tôi chỉ ngồi trong cái chòi ván làm văn phòng, dò lại sổ tiền trấu, tiền công, tiền bán gạch. Chiều chiều tôi ra sân nghe tiếng máy đùn ọc ạch, tiếng mấy chị người Khmer nói với nhau bằng tiếng của họ, nhanh và mềm.
Sáng thứ Hai tuần sau, lò số hai ra mẻ.
Gạch nung xong phải ủ trong lò cho nguội gần nửa tháng mới dỡ. Ba cho mở miệng lò từ chiều hôm trước để hơi nóng thoát bớt. Sáng ra, thợ đội nón, quấn khăn ướt quanh cổ, chui vô bưng gạch ra từng chồng. Trong lò vẫn còn nóng hầm hập, đứng ngoài miệng lò cũng thấy hơi phả vô mặt như mở nắp nồi cơm.
Tôi đứng ngoài, cầm cuốn sổ đếm xe gạch. Gạch ra lò đỏ đều, gõ vô nhau kêu canh canh như chén sành.
Tới xe thứ mười mấy thì chị Sóc dừng lại. Chị cầm một viên gạch thẻ đưa lên, xoay xoay, rồi kêu:
"Cô Thảo, coi nè."
Tôi lại gần. Trên mặt viên gạch có một dấu bàn tay.
Bàn tay con nít, nhỏ hơn bàn tay tôi gần phân nửa. Năm ngón xoè ra, in chìm vô gạch sâu cỡ nửa đốt ngón tay. Dấu in rõ tới từng đường chỉ lòng bàn tay, rõ như người ta ép tay vô đất sét còn ướt rồi đem nung. Đó là bàn tay trái. Ngón cái hơi cong vô trong, không thẳng như ngón cái người ta.
Anh Sơn đi lại, cầm lên coi, nói chắc con nít nhà ai lẻn vô sân phơi lúc gạch mộc còn mềm, ấn tay chơi.
Chị Sóc lắc đầu. Chị nói gì đó với anh bằng tiếng Khmer, giọng nhỏ, mắt liếc về phía lò số ba.
Tôi nói thôi để riêng ra, gạch lỗi bán rẻ cũng được. Tôi lấy viên gạch đặt lên cái bàn ván trong chòi, định chiều đưa ba coi. Viên gạch vẫn còn âm ấm, hơi nóng ngấm vô lòng bàn tay tôi, đi lên tới cổ tay.
Dỡ tới gần trưa thì ba từ bến trấu đi lên. Ba đứng ngoài miệng lò, hỏi mẻ này được bao nhiêu xe. Tôi nói được chừng năm chục, có một viên dính dấu tay con nít, để trong chòi. Tôi nói nhẹ hều, như kể chuyện vui.
Ba không trả lời liền. Ba quay đầu nhìn về phía chòi, rồi nhìn qua lò số ba. Mặt ba không đổi mấy, chỉ có cái cằm cứng lại như người ta nghiến răng.
"Ai thấy?"
Tôi nói chị Sóc thấy. Ba hỏi viên đó nằm ở chỗ nào trong lò. Tôi nói con không biết, chị Sóc bưng ra. Ba đi thẳng vô chòi, không nói thêm câu nào.
Tôi đi theo. Ba đứng trước cái bàn ván, nhìn xuống viên gạch. Ba không cầm lên. Ba chỉ đứng nhìn, hai tay buông xuôi, mấy ngón tay co vô duỗi ra liên tục. Tôi để ý lần đầu tiên sau bốn năm đi học, hai mu bàn tay ba có mấy vết sẹo bóng nhẫy, da co rúm lại như giấy bóng kiếng bị lửa liếm. Hồi nhỏ tôi hỏi, ba nói phỏng trấu.
"Bỏ nó ra bãi gạch vụn. Đập bể đi."
Ba nói rồi đi ra. Tôi nghe tiếng dép ba bước nhanh ra phía bến.
Tôi không đập. Đập một viên gạch có hình bàn tay con nít, tôi thấy như đập lên tay người. Tôi lấy tờ báo cũ gói lại, nhét dưới gầm bàn.
Chiều đó, lúc thợ dỡ tới lớp gạch cuối sát đáy lò, chị Sóc lại kêu. Lần này giọng chị không còn tò mò nữa. Chị đứng trong miệng lò, hai tay bưng một viên gạch ống, đưa ra mà không dám nhìn.
Trên mặt viên gạch là cũng bàn tay trái đó. Cũng ngón cái cong vô. Nhưng lần này năm ngón không xoè ra. Năm ngón quặp lại, bấu sâu vô gạch, như người ta đang ráng níu lấy một cái gì để khỏi bị kéo đi.