☾ Truyện Ma Có Thật
← Dấu tay trên gạch nung

Chương 2: Vết tay không trôi

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Viên gạch thứ hai ba không thấy, vì chị Sóc đem giấu đâu đó trước khi ba đi lên. Tôi hỏi, chị chỉ nói "bỏ rồi cô", rồi cúi đầu đẩy xe đi. Tối đó vợ chồng chị không ăn cơm chung với thợ. Tôi đi ngang trại lá, thấy chị ngồi đốt một nắm nhang cắm ở gốc cây gòn, miệng lầm rầm.

Sáng hôm sau tôi ra chòi sớm. Tôi lôi viên gạch dưới gầm bàn ra, định coi lại cho kỹ, coi có phải ai lấy khuôn ép lên cho vui không.

Tờ báo gói ngoài ướt mèm.

Đêm đó không mưa. Mái chòi lợp tôn mới, không dột. Vậy mà tờ báo ướt như vừa nhúng nước, mực in nhòe ra loang lổ, dính bết vô mặt gạch. Tôi bóc ra từng mảng. Trong lòng dấu bàn tay đọng một lớp bùn mỏng, sệt sệt, màu nâu đỏ, như đất sét vừa nhồi. Tôi đưa ngón tay quẹt thử. Bùn ấm.

Tôi đem viên gạch ra lu nước sau chòi, lấy cái bàn chải sắt cạo nồi của má mà chà. Bùn trôi đi dễ. Nhưng dấu tay thì không mờ chút nào. Tôi chà tới đỏ cả mấy đầu ngón tay, gạch vẫn y nguyên, từng đường chỉ tay vẫn còn rõ. Tôi lấy cục đá mài dao của anh Sơn mài thử một góc. Góc đó mòn đi, lộ lớp gạch đỏ bên trong. Mà ngay dưới lớp mòn, dấu tay vẫn in tiếp, như nó không nằm trên mặt gạch mà ăn suốt vô ruột gạch.

Anh Sơn đứng sau lưng tôi hồi nào không hay. Anh nói nhỏ:

"Cô đừng mài nữa. Cô mài nó, nó đau."

Tôi quay lại hỏi ai đau. Anh nhìn viên gạch, không trả lời, rồi đi ra máy đùn.

Trưa đó tôi ngồi ăn cơm với má dưới bếp. Má ngồi lựa rau muống, tôi ngồi lột tỏi. Tôi kể chuyện viên gạch. Má nghe tới đâu, tay lựa rau chậm lại tới đó.

"Ba con thấy chưa?"

"Thấy rồi má. Ba biểu đập bỏ."

"Ừ, thì đập đi con. Giữ chi."

Tôi hỏi má sao lò mình cấm con nít, mấy lò khác người ta cho con theo phụ bưng gạch, đi học về là ra sân lò chơi. Má thở ra, nói hồi xưa nhà mình cũng vậy, sau này ba con sợ nên cấm.

"Sợ gì má?"

"Sợ thì sợ. Con nít ở lò, chuyện gì cũng có thể xảy ra."

Rồi má nói qua chuyện giá trấu, nói nhiều hơn mọi khi.

Tôi lột tỏi mà đầu óc cứ chạy về hồi nhỏ. Tôi nhớ hồi đó sân lò có con nít thiệt. Tụi nhỏ người Khmer theo cha mẹ lên làm, đứa lớn phụ khiêng gạch mộc, đứa nhỏ ngồi chơi dưới bóng cây gòn. Tôi nhớ có một chị lớn hơn tôi chừng năm tuổi, da đen nhẻm, tóc cột bằng sợi thun đỏ, hay cõng tôi đi vòng vòng sân phơi. Chị dạy tôi lấy đất sét nặn con trâu, con heo, lén nhét vô lò nung chung với gạch. Chị hay ru tôi bằng một bài tiếng Khmer. Trên kệ gác tôi tới giờ còn một con trâu đất nung bằng nắm tay, gãy một sừng, ba nói ba lượm ngoài sân đem về cho tôi.

Tôi nhớ chị kêu tôi là "Thảo con", vì chị cũng có một đứa em gái ở dưới quê tên gần giống vậy. Còn tên chị thì tôi phải ngồi lục lâu lắm mới ra. Chị Đa. Chị Đa.

"Má, hồi đó có chị Đa, nhớ hông má? Người Miên, hay cõng con."

Má đang cầm bó rau. Bó rau rớt xuống thau nước, nước văng lên ướt vạt áo má. Má cúi xuống vớt, nói:

"Nhớ đâu mà nhớ. Hồi đó thợ ra thợ vô, đứa nào nhớ hết."

"Chị đó đi đâu vậy má? Con nhớ tự nhiên chị mất tiêu."

"Thì theo má nó về dưới Trà Cú chớ đi đâu. Người ta làm mùa, hết mùa thì về."

Má đứng dậy bưng thau rau ra lu. Tôi ngồi lại, lột nốt củ tỏi. Tôi nhớ thêm một điều nữa, không biết thiệt hay mình tưởng tượng. Hồi chị Đa mất tiêu, có một người đàn bà Khmer tới sân lò nhà tôi mấy lần, đứng ở cổng, hỏi gì đó với ba. Lần nào ba cũng lắc đầu. Lần cuối, ba đưa cho bà một cái bao thư.

Chiều đó ba kêu xe ba gác chở hết gạch mẻ lò số hai ra bãi. Ba không bán cho mối quen ở chợ Cái Nhum như mọi khi mà bán xả cho một ông lái ghe dưới Cần Thơ, giá rẻ phân nửa. Ba đứng coi chất gạch lên ghe, đếm từng xe. Ghe đi rồi ba mới về ăn cơm.

Tôi không nói với ba là viên gạch đầu tiên tôi chưa đập. Tôi để nó lại dưới gầm bàn, lót thêm hai lớp bao ni lông.

Đêm đó trời oi. Tôi ngủ trên căn gác gỗ nhà trên, cửa sổ mở ra phía sân lò. Lò số một đang đốt, ánh lửa trấu đỏ lờ mờ hắt lên vách. Ếch nhái dưới ao kêu rân, dế kêu trong bãi gạch vụn.

Tôi tỉnh lúc trời còn tối thui. Tôi không biết mình tỉnh vì cái gì cho tới khi nhận ra là ếch nhái dưới ao đã nín hết. Không còn một tiếng dế. Chỉ còn tiếng lửa trấu reo trong lò số một, đều đều như tiếng thở.

Rồi tôi nghe tiếng hát.

Giọng con gái, nhỏ, trong, không có nhạc. Hát bằng tiếng Khmer. Câu hát ngắn, cuối câu kéo dài xuống như ru. Một câu, nghỉ, rồi lặp lại. Tiếng vọng lên từ phía sân phơi gạch mộc, chỗ mấy hàng gạch so le như răng lược.

Tôi bò lại cửa sổ. Sân lò tối, chỉ có ánh lửa lò số một hắt ra một khoảng đỏ. Mấy hàng gạch mộc chạy dài vô bóng tối, im lìm. Không có ai.

Tiếng hát vẫn còn. Nó không lớn lên mà cũng không nhỏ đi. Nó đi chầm chậm dọc theo hàng gạch, từ đầu sân xuống cuối sân, như có người vừa đi vừa hát, vừa đưa tay vuốt lên từng viên gạch mộc.

Và tôi biết bài đó. Tôi không hiểu một chữ nào trong bài, nhưng tôi biết điệu đó. Miệng tôi đã tự nhẩm theo trước khi tôi kịp nhớ ra ai dạy mình.