Chương 2: Cữ chín giờ
Khoảng 4 phút đọc·11lượt xem
Đêm thứ hai, chín giờ, đèn bên đó lại sáng. Đêm thứ ba, thứ tư, cũng vậy. Tôi không có đồng hồ treo tường, chỉ có cái điện thoại cục gạch. Tôi canh thử: đèn sáng lúc chín giờ kém năm, kém ba, có đêm đúng chín giờ. Chưa đêm nào trễ hơn. Và lần nào cũng thế, cá tôi lặn im suốt cữ chiều, đợi tiếng rào rào bên kia nổi lên mới chịu lên ăn.
Tôi đổi giờ cho ăn thử. Cho cữ chiều lúc năm giờ, lúc bảy giờ, lúc tám giờ. Cám cứ nổi. Chín giờ, đèn sáng, cám hết.
Tôi bỏ luôn cữ chiều, chỉ rải cám lúc tám giờ rưỡi rồi ngồi chờ. Cá tôi vẫn mập, vẫn lớn đều, không bệnh. Hạnh thấy tôi cho cá ăn trễ thì hỏi, tôi nói trời nóng, cho ăn tối cá đỡ sốc. Hạnh tin.
Tôi hỏi anh Sang, chủ bè phía trên tôi, dân Biển Hồ về, nuôi cá ở khúc này mười mấy năm.
"Anh Sang, cá anh cho ăn mấy giờ?"
"Sáng sớm với năm giờ chiều. Sao?"
"Cá ăn liền không anh?"
Anh Sang nhìn tôi một chút.
"Khúc này cá ăn cữ khuya. Ai cũng biết. Chiều rải cho có vậy thôi."
"Sao vậy anh?"
Anh Sang cúi xuống vá lưới.
"Kệ nó. Cá ăn là mừng rồi. Hỏi hoài."
Tôi để ý mấy đêm sau. Hễ ếch nhái dưới lục bình im tiếng là cả làng bè hai chục cái đều rộn lên tiếng cá đớp mồi. Không bè nào có người đứng rải. Người ta ở trong nhà coi vô tuyến, ru con, nhậu. Không ai ra mé lồng. Không ai nhìn về phía bè hoang. Chỉ có bè hoang là có đèn, có tiếng rào rào, có tiếng lưỡi chắt chắt.
Như cả khúc sông này ăn chung một cữ cám. Mà người rải cám thì chỉ có một.
* * *
Buổi trưa, lúc Hạnh ngủ với con Na, tôi lấy cái xuồng nhỏ bơi qua bè hoang.
Bè nổi lệch, bước lên thì nghiêng, ván sàn mềm dưới chân. Lưới lồng rách tới đáy, nhìn xuống thấy rễ lục bình trôi qua trong lồng. Trong lồng không có cá. Tôi rọi đèn pin xuống nước tới lúc mỏi tay, không một cái vảy.
Khúc cột cụt ở góc bè mặt cắt xám, khô, mọc rêu. Chỗ đó không có đèn, không có móc, không có dây. Tôi sờ lên mặt cắt. Lưỡi cưa cắt ngọt, một mạch, kiểu người có việc gấp.
Tôi đẩy cửa ván nhà bè.
Bên trong tối, hôi mùi phân chim và mùi cám mốc. Một cái võng dù còn mắc, một cái bếp dầu cạn, một bao cám đã mục nát thành đất, mối đùn lên. Trên vách có cuốn lịch treo tường năm 2009, xé tới tờ tháng Mười thì thôi. Ngày mười bốn tháng Mười có một vòng tròn bút bi. Tôi không biết ngày đó là gì.
Trên cây đinh ở vách, treo một cái lon sữa bò cũ, có quai bằng dây kẽm. Lon múc cám. Người nuôi cá ai cũng có một cái như vậy, dùng lâu, bóng loáng. Cái lon này khô rang, bên trong còn dính mấy viên cám hạt to, màu nâu sậm, đã đóng mốc trắng.
Hạt to, màu nâu sậm. Đúng loại cám nổi quanh cột đèn nhà tôi mỗi sáng.
Tôi đứng đó hơi lâu. Rồi tôi để nguyên mọi thứ, bơi xuồng về. Lúc về, con Na đã thức, đang ngồi ở mé lồng, đưa tay vẫy về phía bè hoang.
"Con vẫy ai vậy?"
"Vẫy ông."
"Ông nào?"
"Ông bên kia. Ông đứng chỗ cây cột."
Tôi quay lại nhìn. Bè hoang trống trơn, nắng trưa dội xuống mái tôn tốc chói mắt. Khúc cột cụt ngang gối, không ai đứng được chỗ đó.
Tôi bế con Na vô nhà, nói với Hạnh từ nay đừng cho nó ra mé lồng một mình. Hạnh nhìn tôi, định hỏi, rồi thôi.
* * *
Đêm đó tôi không ngủ. Tôi ngồi trong nhà bè, hé cửa ván một khe, nhìn qua.
Muỗi đang vo ve bên tai thì bỏ đi đâu hết. Một mùi cám ẩm, mùi bao bố để lâu, bò lên từ mặt sông. Ngọn đèn sáng lên. Vàng đục, treo lơ lửng ngang đầu người, đúng chỗ cây cột cụt. Dưới ánh đèn tôi cố nhìn xem có cái gì đỡ ngọn đèn, cái sào, cái dây, cái gì cũng được. Không có. Ngọn đèn treo trên khoảng không.
Rào rào. Chắt chắt. Rào rào.
Tôi thấy một cánh tay. Chỉ cánh tay, từ khuỷu trở xuống, hiện ra trong vệt sáng rồi rút vô bóng tối. Tay gầy, da sạm, cầm một cái lon. Cánh tay vung ra một đường rộng, đều, kiểu người rải cám cả đời.
Cái lon ấy sáng lên trong một chớp dưới ánh đèn. Lon sữa bò, quai dây kẽm.
Tôi nhớ cái lon đó đang treo trên cây đinh trong nhà bè bên kia. Khô rang. Tôi mới cầm hồi trưa.
Cá tôi lên ăn ào ào. Tôi không ra. Tôi ngồi trong nhà tới sáng, lưng dựa vách ván, nghe cá đớp, rồi nghe cá thưa, rồi nghe tiếng sông.
Sáng ra tôi mở cửa. Trời còn mờ. Cây cột đèn của tôi đứng đó, đen, ướt sương. Trên cái móc sắt ở đầu cột, chỗ tôi treo đèn bình mỗi tối, có một cái lon sữa bò treo bằng quai kẽm. Trong lon đầy cám, cùng thứ hạt đó, còn ướt.
Trưa đó tôi bơi qua bè hoang coi lại. Cây đinh trên vách trống trơn.