Chương 10: Người mới về
Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem
Nhàn về lúc đứng bóng, cùng anh giao liên và một cô gái mới.
Nhàn gầy, da vàng như nghệ, tóc rụng gần hết phải quấn khăn. Nhưng Nhàn cười từ xa, từ lúc còn ở bên kia suối. Chị Lý chạy ra đón, hai người ôm nhau ở giữa suối, nước tới đầu gối. Thuận, Sâm, Mận chạy theo. Tôi đứng ở cửa hang nhìn.
Cô gái mới tên Hiền, mười bảy tuổi, người Thanh Chương, mặt tròn, ba lô còn mới. Hiền đứng nép sau Nhàn, nhìn cái hang, nhìn lèn đá, nhìn năm người đang khóc đang cười, chưa biết làm gì.
Chị Lý lau mặt, nói với Hiền, giọng tiểu đội trưởng.
"Tiểu đội còn bốn. Thêm Nhàn, thêm em là sáu. Em nằm sạp bên trái, chỗ cuối. Nhàn, chỉ cho nó."
Tôi đếm. Chị Lý, Thuận, Sâm, Mận, Nhàn, Hiền. Và tôi. Bảy.
Chị Lý nói sáu.
Tôi nghĩ chị quên tôi. Chị mệt quá rồi, mệt từ hôm Gái mất. Tôi không giận.
* * *
Nhàn dẫn Hiền vào hang. Nhàn đi thẳng đến sạp bên trái, chỗ cuối. Chỗ của Nhàn ngày trước. Chỗ tôi nằm từ hôm về.
Hiền đặt ba lô xuống sạp. Đúng chỗ tôi gối đầu. Hai cái chăn chiên của tôi Nhàn gấp lại, để sang bên, nói với Hiền.
"Chỗ cũ của chị. Giờ của em. Chăn có sẵn đây, em đắp."
Tôi nói đấy là chỗ tôi. Tôi nói to. Hiền đang mở ba lô. Nhàn đang gấp chăn. Không ai ngẩng lên.
Tôi đứng ở giữa hang. Lần đầu tiên từ hôm về tôi không biết đứng vào đâu.
Hiền ngồi xuống sạp, kéo cái chăn chiên của tôi lên đùi, rồi buông ra ngay.
"Chăn ni lạnh dễ sợ chị ơi. Như chăn ướt."
Nhàn sờ thử, im một lúc, rồi bảo ở hang nào chăn cũng thế, nằm một lúc thì ấm. Hiền gật, mà vẫn để cái chăn ở xa.
* * *
Buổi chiều Nhàn xin chị Lý ra sau hang. Nhàn cầm một nắm nhang anh giao liên để lại. Mận đi theo. Tôi đi theo Mận.
Nhàn cắm nhang lần lượt lên bốn nấm mới. Nhàn khóc, gọi tên từng người. Gái ơi. Vân ơi, Luyến ơi. Tịnh ơi. Rồi Nhàn đứng lên, đi đến nấm cũ, nấm lùi lại một mình, nấm có bi đông móp.
Nhàn quỳ xuống. Nhàn cắm nhang. Nhàn nói.
"Thắm ơi... Chị Nhàn đây. Chị về rồi em. Chị chưa thấy mặt em lần mô. Em vô thay chỗ chị, nằm chỗ chị, mà chị thì nằm viện... Chị xin lỗi em."
Tôi đứng sau lưng Nhàn. Tôi nghe tên tôi. Tôi nhìn cái bi đông ở đầu nấm.
Mưa mấy hôm trước đã rửa trôi bớt bùn. Lớp sơn xanh lộ ra. Trên sơn có ba chữ cạo bằng đinh. Chữ xấu, nét run.
Thắm. Đức Yên.
Chữ của tôi. Tôi khắc ở cửa hang, chiều cuối tháng Hai, Mận cười bảo xấu cũng là của mi.
Tôi đứng đó. Tôi không ngã, không kêu. Tôi chỉ thấy đất.
Đất đổ xuống lưng. Đất vào miệng. Tiếng Mận gọi tên tôi rồi khóc rồi gọi. Tay Mận nắm cổ tay tôi lôi lên.
Chị Lý quỳ xuống, cúi sát mặt tôi. Chị áp má vào mũi tôi. Rất lâu. Rồi chị ngồi thẳng dậy, nhìn Mận, lắc đầu.
Người ta khiêng tôi đi, lá khô kêu dưới chân người khiêng. Không phải khiêng về sạp của Nhàn. Khiêng ra sau hang.
Tôi tỉnh trên sạp của Nhàn lúc trời hửng. Lạnh từ trong lạnh ra. Đất trong tai, trong tóc, trong kẽ răng. Tôi nghĩ mình may.
Mận đứng sau Nhàn, nhìn vào nấm mộ, không nhìn tôi. Nhưng Mận nói, và tôi biết Mận nói với ai.
"Tau thưa thay mi từ đêm nớ, Thắm. Đêm mô cũng thưa. Mà đêm mô tau cũng nghe có đứa thưa trước tau."
* * *
Chập tối, chị Lý gọi người đi. Lý, Thuận, Sâm, Mận, Nhàn, Hiền. Sáu tên. Sáu tiếng. Chị cài cúc túi. Sáu người đi.
Tôi không đi theo. Tôi ngồi ở nấm đất sau hang, nấm của tôi, tới sáng.
Gần sáng họ về. Hàng ngang ở cửa hang, sáu người, dài hơn mấy hôm trước. Tôi ra đứng vào chỗ cuối. Chỗ ấy vẫn trống, không ai đứng vào.
Chị Lý mở sổ. Lần đầu tiên từ hôm tôi về chị mở sổ ra nhìn khi gọi. Có tên mới, chị phải nhìn.
Chị gọi từ tên mình, rồi Thuận, Sâm, Nhàn, Hiền. Gái, chị Lý thưa. Hồng, Mận thưa. Vân, Thuận thưa. Luyến, Sâm thưa. Tịnh, Nhàn thưa, giọng còn ướt. Mận, có.
"Thắm."
Tôi thưa.
"Có."
Và ngay sau tôi, Mận.
"Có."
Hiền đứng cạnh Nhàn, quay sang, hỏi khẽ.
"Chị ơi, ai thưa trước chị Mận rứa?"
Chị Lý gấp sổ.
"Tiếng vọng. Hang ni có tiếng vọng. Đừng để ý chi."
Mười hai tên. Mười ba tiếng.
Tôi là tiếng thừa. Từ đêm đầu tiên. Tiếng thừa là tôi.