Chương 7: Cái tên gọi ngoài sương
Khoảng 4 phút đọc·6lượt xem
Sau hôm ấy thằng Dũng không ra tuyến nữa. Nó không nói không đi, nó chỉ ngồi ở hiên lúc chúng tôi vác máy, mắt nhìn xuống đất. Anh Lâm không ép. Anh bảo nó ở nhà nấu cơm, gánh nước, phơi mẫu. Đội còn ba người đi tuyến. Tuyến dài hơn, về muộn hơn, ai cũng im hơn.
Dép vẫn đổi chỗ mỗi sáng. Tôi để ý thấy dép Dũng sáng nào cũng bị đổi. Đổi với tôi, đổi với anh Lâm, đổi với ông Phủ, nhưng luôn có nó. Dũng cũng để ý. Nó không nói, nhưng sáng nào nó cũng xỏ dép rất lâu, cúi nhìn rất lâu, như kiểm tra xem dép có còn là của mình không.
Đêm thứ hai sau khi Quý đi, tôi tỉnh dậy vì lạnh.
Lạnh từ phía bên phải, chỗ Dũng nằm. Tôi quờ tay. Chăn nó lật, chiếu lạnh. Không có nó.
Tôi ngồi dậy. Lán tối, nhưng tấm bạt cửa đang mở hé, một dải sương xám lọt vào. Chỗ ông Phủ nằm, ông cũng đang ngồi, đã ngồi từ trước. Ông nhìn tôi, đưa tay lên môi.
Chúng tôi ra hiên. Dép Dũng không còn. Ba đôi còn lại nằm nguyên.
Ông Phủ bật đèn pin, soi xuống sân. Cỏ ướt sương, có một vệt rạp đi về phía suối. Không phải một vệt. Hai. Một vệt rộng của chân người lớn đi dép. Và sát bên, một vệt hẹp hơn nhiều.
Chúng tôi gọi anh Lâm dậy. Ba người đi theo vệt cỏ. Đến bờ suối thì mất dấu vì đá. Chúng tôi soi đèn dọc bờ, gọi tên Dũng. Suối gầm át hết. Trời sáng dần ra thành màu tro, rồi thành màu sữa, và chúng tôi vẫn chưa thấy nó.
Ông Lử tìm thấy nó. Ông lên sớm, lội qua suối ở chỗ cạn, và thấy thằng Dũng ngồi trên một tảng đá giữa dòng, chỗ chúng tôi vẫn lội qua. Chỗ ông Lử nói người đàn bà năm xưa chết.
Dũng ngồi co, ướt đến ngang ngực, hai tay ôm đôi dép Lào buộc dây thép trong lòng. Hai chiếc dép mũi quay về phía bản cũ. Nó không khóc, không run. Nó nhìn thẳng. Khi ông Lử gọi, nó quay sang nhìn ông, nhìn rất lâu, rồi quay lại nhìn lên núi. Nó không nói một tiếng nào. Suốt buổi sáng không một tiếng nào.
Anh Lâm quyết đưa nó xuống. Ông Lử cõng nó, Dũng để yên cho cõng, như đứa trẻ con. Lúc đi ngang hiên, nó quay đầu lại nhìn hàng dép, và lần đầu tiên từ sáng mặt nó có một cái gì đó. Tôi không gọi được tên cái ấy.
* * *
Còn ba người. Anh Lâm, ông Phủ, và tôi.
Anh Lâm ngồi ở hiên với tờ bản đồ rất lâu. Rồi anh gập lại.
"Ba ngày nữa là xong mốc. Ba ngày. Rồi xuống."
Anh nói với tôi, nhưng anh nhìn ông Phủ. Ông Phủ gật.
Ba ngày ấy chúng tôi làm từ sáng đến tối mịt. Hai người đi tuyến, ông Phủ ở lại nấu cơm vì ông yếu. Ông ho suốt. Có buổi trưa về sớm lấy mẫu, tôi thấy ông ngồi sau lán, úp mặt vào cái khăn tay, ho rút ruột. Khi ông bỏ khăn ra, có một vệt đỏ sẫm trên vải. Ông giặt khăn ở suối ngay sau đó, vò rất lâu. Tôi lùi lại, không để ông thấy.
Tôi không nói với anh Lâm. Tôi nghĩ ông sẽ không muốn.
* * *
Đêm thứ hai trong ba đêm ấy, tôi tỉnh dậy vì một mùi. Mùi khói củi, khói bếp, rất gần, như có ai vừa chụm lửa ngay trước cửa lán. Bếp của chúng tôi đã tắt từ đầu hôm, tro nguội.
Rồi tôi nghe tiếng. Không phải tiếng dép. Tiếng người.
Tấm bạt cửa mở. Ông Phủ ngồi ở mép hiên, lưng quay vào, hai chân thõng xuống sân. Trước mặt ông, trên ván, ba đôi dép xếp hàng. Và ông đang nói.
Ông nói tiếng Mông. Nói nhỏ, chậm, đều, không phải giọng nói chuyện. Giọng người lớn nói với trẻ con lúc dỗ nó ăn, lúc bảo nó đi ngủ. Thỉnh thoảng ông dừng, như nghe ai nói lại, rồi nói tiếp. Có lúc ông cười, một tiếng cười rất ngắn, rất mệt.
Sân trước mặt ông trống. Sương dày. Tôi nhìn kỹ hết sức. Không có gì.
Và trong chuỗi tiếng Mông ấy, có một tiếng tôi nghe rõ, vì ông lặp lại nhiều lần, và vì nó lên giọng ở cuối, như người ta gọi tên một đứa trẻ đang chơi ngoài sân về ăn cơm.
"Mỷ. Mỷ ơi."
Ông gọi thế, rồi ông cúi xuống, cầm đôi dép của tôi và đôi dép của anh Lâm, đổi chỗ cho nhau. Chậm, hai tay, nhưng tay ông run, chiếc dép da của anh Lâm tuột ra rơi xuống ván đánh cạch. Ông cứng người, chờ một lúc như sợ đánh thức ai, rồi mới nhặt lên đặt nốt. Rồi ông ngồi im, nhìn ra sân, đến khi tôi không chịu được, nằm xuống, nhắm mắt.
Sáng ra dép tôi ở chỗ anh Lâm. Anh Lâm không nói gì, xỏ dép, đi. Tôi cũng không nói gì.
Lúc buộc lại dây lều sau bữa sáng, chỉ có hai người, tôi hỏi ông, bằng giọng tự nhiên nhất tôi có thể:
"Bác ơi, Mỷ là ai hả bác?"
Tay ông dừng trên nút dây. Dừng lâu. Rồi ông buộc tiếp.
"Anh nghe nhầm."
Ông nói thế, bỏ đi lấy củi. Nhưng cái nút dây ông buộc, lúc tôi cúi xuống xem, đã bị thắt hai lần, chặt đến mức tôi phải lấy dao mới cởi được.