☾ Truyện Ma Có Thật
← Ba giờ mười lăm

Chương 6: Cái ghế mây

Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem

Tôi không đem trả. Tôi lên Gò Vấp lần thứ hai, hai ngày sau, nhưng không mang theo cái đồng hồ. Tôi muốn thấy căn nhà trước.

Hẻm đường Nguyễn Văn Nghi rộng vừa hai xe máy tránh nhau, nhà ống san sát, nhà ông Hai Lợi là căn gạch cũ một trệt một lầu, cổng sắt sơn xanh đã tróc, trước sân có cây mai còi. Tôi bấm chuông. Người ra mở là một bà chừng sáu lăm, tóc búi, mặc bộ đồ bộ in bông. Tôi nói tôi là thợ sửa đồng hồ dưới Quận 5, đang giữ cái Ô-đô của nhà, lên hỏi thêm vài chuyện về cái máy. Bà nhìn tôi từ đầu xuống chân rồi mở cổng.

Bà là dì Út, em ruột ông Hai. Bà nói Danh đi làm, chiều mới về. Bà dẫn tôi vô phòng khách.

Phòng khách nhà cũ Sài Gòn, gạch bông, trần cao, quạt trần quay chậm. Bàn thờ kê giữa, hình ông Hai Lợi đen trắng, ông gầy, trán cao, mắt sáng, miệng mím. Bên trái bàn thờ, sát tường, kê một cái ghế mây có tay dựa, nệm vải đã sờn. Ghế quay mặt vô bức tường đối diện. Trên bức tường đó, ngang tầm mắt người ngồi, có một hình chữ nhật sáng hơn màu tường xung quanh, bốn góc còn vết đinh. Chỗ cái Ô-đô đã treo mấy chục năm.

Dưới chân ghế, cái đài bán dẫn cũ, ăng ten gãy một đoạn, nút vặn mòn bóng.

Tôi không ngồi cái ghế mây. Tôi ngồi ghế nhựa bà kéo ra. Bà rót nước, ngồi xuống đối diện, hai tay đặt lên gối.

"Anh sửa được không?"

Tôi nói thiệt. Nó chạy, rồi dừng, lần nào cũng ở chỗ kim chồng lên nhau. Bà gật như biết trước.

"Anh Hai tôi chết giờ đó. Ngồi cái ghế này. Ảnh đi, đồng hồ đứng. Công an nói chết khoảng hai tới bốn giờ sáng, tôi nói cần gì khoảng, đồng hồ nói rồi."

Bà kể chậm, không khóc, chắc đã kể nhiều lần. Ông Hai mất ngủ từ hồi vợ mất, sáu năm. Đêm nào cũng ngồi đây, mở đài nhỏ, nhìn cái đồng hồ, nghe nó gõ từng mười lăm phút, nói nghe vậy đỡ trống. Người quen gọi cái ghế là ghế trực đêm của ông. Ai cũng biết, cả hẻm biết.

"Sáng hôm đó con Loan nhà tôi qua đem đồ ăn sáng, thấy cổng không khóa. Vô tới nơi thấy ảnh ngồi đó, đầu gục tới trước. Máu xuống hết lưng áo. Tủ trong buồng mở, vàng ảnh để dành với tiền bán miếng đất dưới Hóc Môn, hết sạch."

Tôi hỏi, còn Danh. Bà nhìn lên lầu.

"Nó ngủ trên đó. Nói ngủ say. Con Loan la cả hẻm chạy qua, nó mới xuống. Mặt nó lúc đó, tôi nhớ tới chết."

Bà ngưng. Rồi bà nói, thằng Danh ở với ông Hai từ hồi mười tám, mẹ nó là chị dâu ông Hai, mất sớm. Ông Hai thương nó, tính để căn nhà này cho nó, nói rồi, nói với cả bà. Nhưng thằng Danh mê đề, nợ, ông Hai trả cho hai lần. Tháng Hai năm nay ông Hai nói với bà, ông tính đổi ý.

"Anh Hai tôi hiền, nhưng nói là làm. Ảnh nói tháng này ảnh sẽ nói với nó. Rồi tháng Ba ảnh chết."

Tôi không hỏi gì. Bà cũng không nói ra cái chữ đó. Nhưng cả hai chúng tôi đều nhìn lên lầu.

"Cổ tay nó bị xước, hồi tuần đó. Nó nói mèo cào. Nhà này không có mèo."

* * *

Tôi hỏi bà về cái đồng hồ. Tại sao muốn nó chạy lại. Bà nói đó là chuyện của bà, không phải của Danh. Bà đem lên ông Tám Lượng vì bà tin anh bà còn ở trong đó, và bà muốn biết anh bà muốn gì. Ông Tám trả, thằng Danh lên lấy về, bà để nó trên bàn thờ, không treo. Rồi một bữa qua thấy nó đã đem đi.

"Nó nói nó đem xuống Quận 5 cho thợ giỏi. Nó nói nếu đồng hồ chạy lại được, trước mặt tôi, là anh Hai không còn giận ai trong nhà này. Là anh Hai tha. Nó nói vậy, anh Tư. Nó nghĩ tôi khờ."

Tôi hỏi, vậy dì tin cái gì. Bà nhìn cái ghế mây.

"Tôi tin anh tôi ngồi đó chờ. Ảnh chờ người ngồi lại chỗ ảnh. Để thấy cái ảnh đã thấy."

Tôi nổi gai ốc dù phòng khách đang nóng. Tôi hỏi, ai đã thử ngồi chưa. Bà nói bà thử. Bà ngồi một đêm, đồng hồ lúc đó treo lại trên tường, không chạy. Loan ngồi, không chạy. Ông Tám Lượng không chịu ngồi.

"Thằng Danh không bao giờ ngồi. Nó đi ngang cái ghế này nó đi sát tường bên kia."

Tôi đứng dậy từ giã. Đi ngang cái ghế mây, tôi dừng lại. Nệm sờn, tay dựa bóng mồ hôi hai chục năm, lưng ghế có vết nứt ở một nan. Tôi muốn ngồi thử. Tôi không biết tại sao. Chân tôi đã bước nửa bước về phía nó.

Dì Út nói sau lưng tôi, giọng rất bình thường:

"Đừng. Chưa phải bây giờ."

Tôi quay lại. Bà đang nhìn tôi như nhìn một người bà đã chờ, không phải như nhìn ông thợ mới quen. Bà nói:

"Anh đem nó về đây đi. Nó không chạy ở tiệm anh đâu. Nó chạy ở đây, có người ngồi đó."

Tôi dắt xe ra khỏi cổng. Lúc đạp máy, tôi ngẩng lên. Cửa sổ trên lầu có rèm, và rèm vừa khép lại. Dì Út nói Danh đi làm chiều mới về. Tôi không hỏi bà ai ở trên đó. Tôi chạy về.