☾ Truyện Ma Có Thật
← Ba giờ mười lăm

Chương 7: Đêm ngồi canh

Khoảng 4 phút đọc·7lượt xem

Tôi không đem nó về Gò Vấp. Tôi chưa chịu. Tôi muốn thấy tận mắt một lần cái gì xảy ra lúc nó dừng. Tôi nói với mình như vậy. Tôi không nói với mình rằng từ hôm đứng trước cái ghế mây, tôi muốn ngồi xuống đó.

Đêm thứ ba sau khi lên Gò Vấp, tôi chuẩn bị. Tôi đẩy hết đồng hồ trên tường chạy lại. Tôi tháo cái Ô-đô xuống, treo lại thấp hơn, ngang tầm mắt người ngồi, như Danh dặn hôm đầu. Tôi kéo cái ghế thợ ra, đặt đối diện cái đồng hồ, cách hai thước, lưng ghế quay ra cửa kính. Y như cái ghế mây.

Vợ tôi đứng trên cầu thang nhìn xuống, không nói gì. Rồi cô đi lấy cái chăn mỏng đắp lên vai tôi, và đi lên.

Tôi ngồi từ mười một giờ. Tôi tắt đèn bàn thợ, để một bóng đèn vàng ở góc. Mưa đêm rả rích ngoài hẻm, nước nhỏ từ mái tôn xuống thau nhựa đều đều. Trong tiệm, mưa tích tắc. Tôi nhìn cái Ô-đô. Quả lắc đồng loé sáng rồi tối, loé rồi tối. Kim phút bò chậm.

Nửa đêm, nó gõ nhạc rồi điểm mười hai tiếng, cả tiệm cùng gõ theo loạn xạ, rồi lắng. Tôi buồn ngủ, rồi hết buồn ngủ. Tay tôi lạnh dần dù tôi quấn chăn.

Con thạch sùng trên trần tặc lưỡi từ đầu đêm bỗng im. Rồi mùi dầu gió.

Đêm nay nó không tới từ từ. Nó ập vô như có người mở nắp chai ngay sau gáy tôi. Mùi bạc hà cay lẫn mùi dầu, mùi người già, mùi áo mặc nhiều ngày. Tôi ngồi thẳng. Tôi không quay lại. Tôi đã quyết từ đầu đêm là không quay lại.

Cái Ô-đô gõ nhạc, điểm ba tiếng. Tiếng tích tắc cả tiệm bắt đầu gom. Tôi nghe tiếng mưa thành tiếng bước chân, rồi thành một bước chân. Cả tiệm bước một chân, chậm, nặng, như người lớn tuổi đi trong nhà tối.

Rồi có tiếng bước chân thiệt.

Trên nền gạch sau lưng tôi. Tiếng dép lê. Tiếng dép đi từ chỗ cửa kính đang khoá, đi tới, chậm, mỗi bước cách nhau lâu hơn bước thường.

Tôi nhìn thẳng vô mặt kính của cái đồng hồ. Mặt kính tròn, đèn vàng góc tiệm hắt lên, trong đó tôi thấy mờ mờ cái tiệm sau lưng mình. Bóng tôi ngồi. Cửa kính. Bức tường đối diện.

Và một bóng người đi vô trong cái mặt kính đó.

Một người đàn ông, cao hơn tôi, gầy. Tôi không thấy mặt, chỉ thấy một hình đen sẫm hơn bóng tối, hai tay buông. Bóng đó tới sau lưng ghế tôi và đứng lại. Đứng im. Tôi không nghe hơi thở nữa. Tôi nghe tim tôi.

Trong mặt kính, bóng đó từ từ đưa một tay lên.

Tay cầm cái gì đó ngắn, đen, nặng. Tay đưa cao qua đầu. Dừng ở đó. Tôi biết tay đó sẽ rơi xuống chỗ nào. Tôi muốn đứng lên mà hai chân như bị đóng đinh xuống gạch, hai tay nắm cứng mép ghế.

Tôi nghĩ tới vợ con trên gác. Tôi nghĩ tới ba tôi. Tôi nghĩ, ông Hai Lợi cũng đã thấy y như vầy, trong mặt kính này, và ông cũng không quay lại kịp.

Bốn nốt nhạc.

Cả tiệm im.

Và cái Ô-đô không dừng.

Tôi nghe rõ. Trong cái im của hơn hai mươi cái đồng hồ, cái Ô-đô vẫn bước. Tích, tắc. Quả lắc vẫn loé rồi tối. Kim phút bò qua khỏi số ba, một li. Hai li. Nó đang chạy qua ba giờ mười lăm, lần đầu tiên.

Trong mặt kính, cái tay giơ cao vẫn chưa rơi.

Tôi không chịu nổi nữa. Tôi đứng bật dậy, quay lại.

Không có ai. Tấm màn vải đung đưa. Mùi dầu gió còn đó, đậm như có người vừa bước ra khỏi chỗ đó một giây trước. Trên nền gạch, chỗ sau lưng ghế, có một vết ướt tròn bằng đồng xu, như một giọt nước nhỏ xuống. Tôi cúi xuống chạm thử. Lạnh, không có mùi. Tôi chùi tay vô quần.

Rồi tôi nghe ra. Cái Ô-đô đã dừng.

Tôi quay lại nhìn. Kim phút nhích khỏi số ba được một li thì đứng. Nó đã chạy qua được chừng nửa phút, trong lúc tôi ngồi. Tôi đứng dậy, nó dừng.

Tôi đứng đó, giữa tiệm, giữa đêm, và tôi hiểu một điều mà tôi không muốn hiểu. Nó không chạy cho thợ. Nó chạy cho người ngồi. Ngồi đúng chỗ, lưng ra cửa, mặt nhìn nó, và chịu không quay lại.

* * *

Trên gác có tiếng con tôi khóc. Tôi chạy lên. Vợ tôi đã thức, đang ôm nó. Nó chín tuổi, không khóc đêm từ lâu. Nó nấc lên từng tiếng, chỉ tay xuống cầu thang.

"Có ông già ngồi ở bàn ba. Ông ngồi quay lưng, ông kêu con."

Vợ tôi nhìn tôi. Tôi hỏi con, ông kêu cái gì. Nó rúc vô ngực mẹ, nói nghẹt:

"Ông nói, kêu ba con ngồi xuống đi. Ngồi cho hết."