Chương 9: Hai lượt rau lang
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Mười tám năm sau đêm ấy, em không về thêm lần nào.
Con Thu lấy chồng năm 2006, cuối năm sau sinh con Thảo, tuổi Đinh Hợi. Hai vợ chồng nó lên Hà Nội làm công nhân, gửi con Thảo về cho ông bà ngoại. Ông Khoát mất năm 2008. Chị Nhài có lần gặp tôi ở đám giỗ họ, kéo ra góc sân, nói bó hương cắm ở ngõ nhà tôi năm ấy là chị cắm, để trù tôi. Chị xin tôi bỏ qua. Tôi bảo tôi bỏ qua lâu rồi.
Hai lá sớ tôi vẫn cất trong cái hộp sơn then, trên bàn thờ nhà mình. Đốt không cháy, vứt không đành.
* * *
Tháng Chạp năm Kỷ Hợi, 2019, rét đậm. Con Thảo mười hai tuổi, bằng tuổi em tôi năm ấy.
Đêm hai mươi tháng Chạp, tôi mơ.
Trong mơ là một buổi chiều mưa phùn, khói rơm vấn trên mái nhà ai. Tôi đứng ngoài đường làng xóm Đông, trước một cái ngõ có gốc duối già.
Ngõ nhà tôi.
Con Ngân ngồi trên bậc gạch đầu ngõ. Không đứng đợi như mọi lần, mà ngồi, như người đi xa về đến nhà mình, ngồi nghỉ chân. Lần này em không mặc áo bông đỏ. Em mặc cái áo bông xanh, cái áo của chính em, cái áo bà lột ra mặc cho tôi năm Quý Hợi. Áo vừa khít người em. Trên đùi em đặt hai lá sớ giấy hồng điều, gấp tư.
Em quay mặt vào trong ngõ, nhìn về phía cửa buồng tôi nằm.
Tôi tỉnh dậy. Gối thơm mùi lá bưởi. Tôi không sợ nữa. Tôi chỉ thấy mệt, như người gánh lúa đi một quãng đường xa mà biết sắp đến sân.
* * *
Sáng hôm sau, tôi mang cái hộp lên chùa. Sư bà ngày trước đã viên tịch, giờ là sư cô Diệu Hạnh, người làng bên. Tôi kể hết. Sư cô nghe, rồi đi lấy giấy, mài mực.
"Bà đọc tên với năm sinh cho đúng. Tên bà, tuổi bà."
Tôi đọc. Nguyễn Thị Hằng, sinh năm Kỷ Dậu. Sư cô viết, rồi đặt lá sớ mới lên trên hai lá sớ cũ, đưa cho tôi cái bật lửa.
"Bà tự đốt."
Lửa bắt ngay. Ba lá sớ cháy cùng một lúc, giấy cũ cháy nhanh hơn giấy mới, tro bay lên xoắn lại như một sợi tóc.
"Nước lá bưởi cụ nhà bà gội cho hai đứa là để rửa vía, cho hai cái vía nó lẫn vào nhau. Em bà về thì mang cái mùi ấy theo. Mùi ấy còn thì cái vía còn chưa gỡ ra được."
Tôi hỏi sư cô, cụ Tảo, anh Thịnh, thằng Hiếu, bu tôi, có phải em tôi bắt đi không.
"Không ai bắt được ai, bà ạ. Số người ta đến thì người ta đi. Em bà chỉ đứng đợi, đón người ta một quãng cho đỡ lạc. Việc ấy đáng ra là việc của bà."
* * *
Tối hai mươi ba tháng Chạp, cúng ông Công ông Táo xong, tôi lấy cái áo bông đỏ chấm bi trong rương ra khoác. Tôi đặt ghế đẩu ở đầu ngõ, dưới gốc duối, ngồi quay mặt ra đường. Toàn không cản. Anh mang cái chăn ra, ngồi xổm bên cạnh tôi, hút thuốc.
Mùi lá bưởi đun bốc lên từ mặt đường gạch. Toàn cũng ngửi thấy. Tôi biết vì điếu thuốc trên tay anh tắt ngấm.
Rồi ngực tôi thắt lại, như bị ai bóp. Tôi nghe Toàn gọi tên tôi, xa dần.
Tôi đang đứng trên bờ đê, giữa trưa tháng Năm, nắng trắng chói. Con Ngân đứng dưới chân đê, áo bông xanh, tay xách cái giỏ tre quai buộc lạt. Em ném cái giỏ với con dao quắm xuống chân tôi.
"Đằng ấy đi bù em. Hai lượt."
Tôi xuống bãi. Luống khoai sát bờ cỏ xanh rì. Tôi cắt rau lang, cắt đầy một giỏ, mang lên đổ trước mặt em, rồi quay xuống cắt lượt nữa. Nhựa rau lang dính đen hai bàn tay. Lúc cắt lượt thứ hai, có cái gì quẫy trong bờ cỏ, lạnh ngắt quấn qua bắp chân tôi rồi trườn đi. Tôi không chạy. Tôi cắt cho đầy giỏ.
Em đỡ cái giỏ thứ hai. Em cởi áo bông đỏ trên người tôi, gấp lại, kẹp vào nách, rồi đi dọc bờ đê về phía bãi tha ma. Em không quay lại. Lần đầu tiên trong đời, tôi đứng nhìn em đi xa mà không phải ở đầu ngõ nào.
* * *
Tôi tỉnh dậy ở bệnh viện tỉnh, ba ngày sau. Bác sĩ bảo tôi bị nhồi máu cơ tim, Toàn cõng chạy ra đường cái gọi xe kịp, chậm nửa giờ là không còn. Chân trái tôi từ ấy yếu hẳn, đi phải chống gậy. Bắp chân có một vệt thâm tím như vết dây quấn, không ai giải thích được.
Toàn kể lúc anh cõng tôi lên xe, hai bàn tay tôi đen nhựa rau lang, kẽ móng đầy đất bãi. Giữa tháng Chạp, bãi sông không còn ngọn rau lang nào. Cái áo bông đỏ cũng không còn trên người tôi. Anh tìm khắp ngõ không thấy.
Con Thảo vào viện thăm bà, ngồi bên mép giường, kể.
"Đêm hôm ấy cháu thấy một chị mặc áo xanh đứng ở chân màn. Chị ấy bảo cháu ngủ đi, bảo cháu dậy thì bảo bà là chị đi rồi, không về nữa đâu."
Từ ấy đến nay tôi không mơ thấy em lần nào nữa. Người trong làng còn gọi tôi là bà Hằng biết trước được vài năm, rồi thôi, vì chẳng còn gì để biết. Mấy nhà có cụ già lại mở cổng khi tôi đi qua.
Rằm tháng Năm nào, ngày giỗ em, tôi cũng chống gậy ra bãi, cắt một giỏ rau lang, mang ra mộ em. Tôi cắt hai lượt, đổ đầy hai giỏ.
Đêm hôm ấy, chỉ đêm ấy thôi, gối tôi lại thơm mùi lá bưởi.