☾ Truyện Ma Có Thật
← Em đứng đầu ngõ

Chương 8: Hai lá sớ

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Con Thu ngồi co trong màn, mặt tái mét, hai tay ôm gối. Tôi ôm nó, nó run bần bật.

"Có chị nào mặc áo đỏ đứng ở chân màn, bu ạ. Chị ấy cúi xuống ngửi tóc con."

"Chị ấy có nói gì không."

"Chị ấy bảo không phải đứa này."

Tôi ôm con đến sáng. Tóc nó thơm mùi lá bưởi, dù tối qua tôi gội cho nó bằng bồ kết.

Sáng ra tôi chạy về xóm Đông. Toàn đang ngồi đánh giấy ráp cái chân giường ngoài xưởng. Anh ngẩng lên, ngạc nhiên vì thấy tôi đầu tóc rũ rượi. Anh không sao. Cả xóm Đông không ai sao.

* * *

Tôi mở cái hộp ở gian giữa nhà bu, trước bàn thờ, sau khi thắp ba nén hương.

Cái chốt gỗ trong tay bu tra vào vừa khít. Nắp hộp kẹt đất, tôi phải lấy dao cạy. Bên trong khô ráo lạ lùng, như chưa từng nằm dưới đất ngày nào.

Hai lá sớ giấy hồng điều, gấp tư, màu đã phai thành hồng nhạt. Chữ Nho viết bút lông, nét đậm, đẹp. Tôi không đọc được. Kẹp giữa hai lá sớ có một mẩu giấy học trò kẻ ô, gấp đôi, chữ quốc ngữ viết bằng bút bi, nét run run, chữ to như chữ người mới học. Chữ bà tôi. Bà học bình dân học vụ, cả đời chỉ biết viết tên mình với mấy câu khấn.

"Lạy ông bà tổ tiên. Con Ngân mạng cứng, nó gánh được. Xin cho con Hằng qua năm nay. Tội đâu con chịu."

Tôi đọc đi đọc lại. Đọc đến lần thứ ba thì chữ nhoè đi, không phải vì giấy.

Chiều hôm ấy tôi mang hai lá sớ lên chùa làng, nhờ sư bà đọc. Sư bà đeo kính, trải lá sớ lên mặt bàn gỗ, dò từng chữ bằng đầu ngón tay. Đọc xong lá thứ nhất, sư bà ngẩng lên nhìn tôi.

"Sớ dâng sao Kế Đô, cầu giải hạn. Tín nữ Nguyễn Thị Ngân. Sinh năm Kỷ Dậu."

Tôi nói em tôi tuổi Hợi. Sư bà không nói gì, mở lá thứ hai.

"Sớ dâng sao Thái Dương, cầu phúc. Tín nữ Nguyễn Thị Hằng. Sinh năm Tân Hợi."

Tên tôi, tuổi em. Tên em, tuổi tôi.

Sư bà gấp hai lá sớ lại, đặt vào tay tôi, nắm tay tôi khép lại.

"Cái này phải đốt từ năm ấy, con ạ. Không đốt thì nó cứ treo đấy."

* * *

Tôi xuống thẳng nhà ông Khoát. Ông ốm hơn, nằm trên giường trong buồng, cô con gái phải đỡ dậy. Tôi không chào. Tôi đặt hai lá sớ vào lòng bàn tay ông.

Ông sờ mép giấy. Sờ rất lâu. Ông không cần mắt cũng biết đấy là cái gì.

"Bà cụ nhà cô đến tìm tôi trước hôm rằm. Bà cụ mang theo ba chục cân thóc. Năm ấy giáp hạt, nhà tôi bốn đứa con đói vàng mắt."

Ông nói chậm, giọng đều đều, như đọc lại một lá sớ đã thuộc.

"Cụ bảo tôi ghi tên con bé út vào tuổi cô. Ghi tên cô vào tuổi nó. Sao Kế Đô xuống, nó tìm theo cái tuổi, gặp cái tên nào thì nhận cái tên ấy. Rồi bà cụ cho hai đứa đổi áo, cho cái vía nó lẫn. Tôi bảo cụ làm thế là đổi mạng. Cụ bảo cụ biết."

"Ông viết."

"Tôi viết."

Tôi đứng đấy. Tôi nghĩ đến cái giỏ rau lang tôi ném xuống chân em. Mười tám năm tôi tưởng em chết vì tôi lười. Hoá ra em chết từ rằm tháng Giêng, từ lúc bà đứng sau lưng ông Khoát chỉ vào tờ giấy. Cái giỏ chỉ là đường đi của cái hạn.

"Thế sao nó cứ về. Nó báo cho người ta làm gì."

Ông Khoát lắc đầu.

"Nó không báo cho ai cả, cô ạ. Nó không cứu được ai, mà nó cũng chẳng định cứu ai. Đứa chịu hạn thay thì phải làm cái việc của cái hạn. Cái sao ấy nó sai đi đón người. Nó đứng đầu ngõ nhà nào là nó đứng đợi người nhà ấy ra."

"Sao nó lại cho cháu thấy."

"Vì việc ấy là việc của cô. Nó đi hộ cô. Nó cho cô xem nó đang làm hộ cô những gì."

Tôi nhớ đến tiếng em nói đêm qua. Đằng ấy đi hộ em. Câu tôi nói với em năm mười bốn tuổi, quăng cái giỏ xuống chân em.

"Bà cụ còn sống thì cụ đè được, cụ giữ nó ở dưới, cái hộp sớ ở trên. Cụ đi, nó lên. Bu cô đem cái hộp chôn theo bà cụ, tưởng thế là giữ được. Bu cô đi rồi, thì cái hộp lên."

"Bao giờ thì đến lượt cháu."

Ông Khoát ngả lưng xuống gối. Ông đưa tay lần trên mặt chăn, tìm hai lá sớ, rồi đẩy trả về phía tôi.

"Cái hạn ấy là của cô, nó đi hộ thì cũng phải có ngày nó trả. Bao giờ thì tôi không biết. Cô cứ đợi đến lúc nó đứng ngõ nhà cô."

Tôi về, đi ngang qua đầu ngõ nhà ông Chánh, qua cây nhãn đã bị chặt cụt. Tôi không đếm được gì. Tôi chỉ biết từ nay mình phải đợi.

Đêm ấy, tôi đặt hai lá sớ vào bếp, đánh diêm. Que diêm tắt ba lần, dù trong bếp không có gió.