☾ Truyện Ma Có Thật
← Ghe khoai lúc sương xuống

Chương 12: Sáng mười sáu

Khoảng 4 phút đọc·6lượt xem

Tối đó trên ghe nhà có ba người. Lần đầu tiên sau mười bốn năm.

Má ăn được nửa chén cháo rồi buông muỗng. Má ngồi dựa vô vách, nhìn quanh khoang, nhìn cái bếp than, nhìn cái tủ gỗ, nhìn cái bóng đèn tròn, như người ta đi lạc lâu ngày nhìn lại cái nhà cũ. Má không hỏi gì nhiều. Ba cũng không nói gì nhiều. Hai người ngồi cách nhau một sải tay, mà như cách cả một khúc sông.

Má đưa tay lên sờ cái nốt ruồi dưới mắt tôi. Ngón tay má khô, nóng hổi vì sốt.

"Hồi con tám tuổi," má nói, rồi ho một chặp. "Có một sáng sương... bả chèo tới sát ghe mình, kêu Mỹ ơi. Má nằm trong khoang, hổng dám trả lời. Rồi má nghe con nói dạ. Con đang ngủ mà con nói dạ."

Tôi không nhớ chuyện đó. Tôi lắc đầu.

"Con giống má quá. Má sợ bả lộn. Má đi... cho bả theo má. Má tưởng vậy là bả để yên cho con."

Má cười, tiếng cười mỏng như hơi thở.

"Mà bả đâu có theo má. Bả ở lại đây với con mười bốn năm."

* * *

Ba đóng hết tấm bạt cửa khoang, cột dây chặt. Ba lấy mền cũ chèn vô mấy khe vách ván. Ba đốt cây đèn dầu, để sát cửa. Ba ngồi canh. Ba nói không ai ngủ cũng được, qua sáng là xong.

Má nằm giữa khoang, giữa tôi với ba. Má ho từng chặp. Có lúc má thiếp đi, miệng mấp máy như nói chuyện với ai.

Tôi đã định thức suốt đêm. Mà cơn sốt còn sót lại kéo tôi xuống. Điều cuối cùng tôi nhớ là ngọn đèn dầu bắt đầu chập chờn, ngả màu xanh. Ba vẫn ngồi đó, lưng dựa cửa, đầu gục xuống gối.

* * *

Tôi thức dậy vì không còn nghe tiếng ho.

Đèn dầu đã tắt. Sương đã lùa vô đầy khoang, trắng đục, lạnh buốt. Tôi đưa tay qua bên cạnh. Chỗ má nằm còn ấm, mà trống.

Tấm bạt cửa khoang mở toang. Mấy sợi dây ba cột đã được gỡ ra, gỡ từng nút, cẩn thận, không cắt. Ba vẫn ngủ gục ngay bên cạnh, hơi thở nặng nề, như người bị ai ấn đầu xuống.

Mùi khoai. Mà lần này mùi rơm cháy khét lẹt, như nồi khoai đã cạn nước từ lâu mà không ai nhấc xuống.

Tôi bò ra cửa khoang.

Má ngồi ở mũi ghe. Hai chân thòng xuống nước, nón lá đặt bên cạnh, tóc xõa xuống lưng. Trên mái tóc có cây kẹp con bướm màu đỏ, một bên cánh mẻ. Cây kẹp mà tôi đã để lại trên mộ bà ở Ba Láng.

Sát mạn ghe, chiếc xuồng ba lá đậu im. Nồi đất không còn bốc hơi, lá chuối phủ trên đã héo quắt. Bà ngoại ngồi ở lái, vành nón hếch lên về phía má, chờ.

Tôi muốn kêu má. Tôi há miệng, mà cổ họng tôi bị chặn lại bởi một thứ gì lạnh, dẻo, sạn. Vị bùn trào lên tận chân răng. Tôi đã hứa. Tôi ăn khoai của bà rồi.

Bà ngoại không hỏi câu nào. Bà chỉ kêu, một tiếng, nhỏ, khàn:

"Mỹ ơi."

Và lần này má trả lời.

"Dạ. Má. Con nè."

Má bước xuống xuồng ba lá. Nhẹ, như người ta bước xuống xuồng nhà mình. Má ngồi trước mũi, quay lưng về phía tôi. Bà ngoại cầm chèo. Lần đầu tiên tôi nghe mái chèo của bà có tiếng, một tiếng lóc bóc nhỏ, như chiếc xuồng vừa nặng thêm một người.

Chiếc xuồng lùi vô sương. Cây bẹo khoai lắc lư. Tôi thấy má nghiêng đầu dựa vô vai bà, như một đứa con gái mười tám tuổi đi chợ sớm với má về.

Rồi sương khép lại.

Sau lưng tôi, ba thức dậy. Tôi nghe ba bò ra, nghe ba la một tiếng "Mỹ" dài ra giữa rạch, rồi lại một tiếng nữa, một tiếng nữa. Không có ai trả lời ba.

* * *

Sương tan thì người ta vớt được cái nón lá của má trôi ở vàm Cái Sơn, trôi tới chỗ ngày xưa người ta vớt được nón lá của bà. Má thì không thấy. Người trong xóm mò ba ngày, cũng không thấy.

Dì Tư đắp cho má một cái mộ gió, sát bên mộ bà, trong vườn chuối ở Ba Láng. Trong đó chôn cái nón với cái giỏ đệm. Ngày giỗ hai người là một ngày, mười sáu tháng Mười Một.

Ba bán chiếc ghe nhà, lên bờ ở trọ một căn nhà nhỏ trong hẻm, cách sông xa nhất mà tiền ba thuê nổi. Ba không ra bến nữa. Mùa sương ba đóng cửa, nằm trong nhà. Tôi không biết ba ngủ được không.

Tôi thì vẫn bán cà phê ở chợ nổi Cái Răng. Tôi không biết làm nghề gì khác.

* * *

Năm nay sương xuống sớm. Mới cuối tháng Mười âm lịch mà sông đã trắng.

Sáng nay, lúc sương dày nhất, tôi ngửi thấy mùi khoai. Chiếc xuồng ba lá trườn tới từ khối trắng, áp vô mạn xuồng tôi. Bà ngoại ngồi ở lái. Má ngồi ở mũi, nón lá, cây kẹp con bướm trên tóc.

Không ai hỏi tôi có thấy ai không. Má cúi xuống giở lá chuối, bốc một củ khoai, đặt vô lòng bàn tay tôi. Má cười. Mặt má không còn hóp, da không còn xám. Má trẻ như trong tấm hình ghe Phước Lộc.

"Ba con dạo này khỏe hông con? Ba con ở đâu, con chỉ má."

Tôi không trả lời. Xuồng lùi vô sương.

Củ khoai vẫn nằm trong tay tôi lúc tôi ngồi kể chuyện này. Nó còn ấm.