Chương 2: Năm nắm đất sét
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Tôi không biết phải làm gì với cái bịch đất sét. Tôi đứng ở lái ghe, trời còn tối, cái bóng đèn tròn treo trên mui đong đưa theo con nước. Trong khoang, ba tôi đang ngáy.
Tôi kêu ba dậy.
Ba ngồi dậy, dụi mắt, càu nhàu chuyện gì mà kêu sớm vậy. Tôi đưa cái bịch ra. Ba nhìn vô, ngửi thấy mùi bùn, nhíu mày. Tôi kể chuyện chiếc xuồng khoai trong sương, kể bà cụ không lấy tiền, kể tờ mười ngàn ướt nằm lại trong hộp thiếc. Tôi kể tới chỗ bà hỏi thăm con Mỹ ở Ba Láng thì ba đứng bật dậy, đầu đụng vô đà mui cái cốp.
Ba không xoa đầu. Ba giựt cái bịch trong tay tôi, bước ra mạn ghe, trút hết năm cục đất sét xuống rạch. Nước rạch đen. Năm cục đất chìm không một tiếng động, như nước đã chờ sẵn để nhận.
Rồi ba vò cái bịch nilon, nhét vô bếp than, châm lửa đốt. Mùi nilon cháy khét lẹt.
"Từ rày... sương xuống thì đừng mua đồ của ai. Ai bán cũng đừng. Nghe chưa?"
Tôi hỏi ba biết bà đó hả. Ba nói không biết. Ba nói người già trên sông hay dặn vậy, sương xuống là lúc dưới nước với trên bờ nó lẫn nhau. Ba nói xong thì đi rửa mặt, lâu lắm, vục nước lên mặt hết gáo này tới gáo khác.
Tờ mười ngàn ướt, ba không đụng tới. Tôi cũng không dám xài. Tôi phơi nó lên mui ghe cho khô, rồi kẹp vô một cuốn sổ ghi nợ.
* * *
Bữa đó trời quang, không có sương. Tôi chạy ra chợ như thường. Tôi ghé từng ghe quen, hỏi có ai thấy một bà cụ chèo xuồng ba lá bán khoai luộc, cây bẹo treo khoai vỏ đỏ.
Không ai thấy.
Mấy chị ghe khoai lang ở Vĩnh Long nói ghe khoai trên chợ này toàn bán khoai sống, bán sỉ từng bao, ai mà luộc ra bán lẻ. Chị Bảy hủ tiếu múc cho tôi một tô, ngồi nghe tôi kể, đũa cầm trên tay mà không gắp.
Chị Bảy lớn hơn tôi gần hai chục tuổi, bán ở chợ này từ hồi chợ còn neo ở khúc sông dưới. Chị nói hồi chị nhỏ, má chị có dặn, sương tháng Mười Một, tháng Chạp mà thấy ghe nào chèo không có tiếng nước thì đừng kêu, đừng đáp, đừng mua. Người ta kêu đó là ghe sương. Chị nói chị chưa thấy bao giờ, chị tưởng chuyện người xưa nói để con nít khỏi chèo xuồng đi chơi lúc sáng sớm.
"Mà em có ăn miếng nào hông?"
Tôi nói không. Chị Bảy thở ra, gật đầu, rồi mới gắp miếng hủ tiếu đầu tiên. Chị không hỏi thêm. Chị đổi qua chuyện giá đá, chuyện tàu du lịch mới lấn chỗ neo của ghe nhỏ.
* * *
Trưa đó tôi về ghe nhà, nằm võng mà không ngủ được. Tôi nghĩ tới má.
Tôi nhớ về má ít lắm. Mái tóc dài vấn lên bằng cây kẹp. Tiếng vọng cổ nho nhỏ lúc nấu cơm. Rồi một buổi sáng thức dậy, cái giỏ đệm má hay xách không còn trên ghe. Ba ngồi ở mũi ghe hút thuốc, nói má đi làm ăn xa, có tiền má về.
Mười bốn năm, không một lá thư, không một cuộc điện thoại mà tôi biết.
Tôi chưa bao giờ biết má là người ở đâu. Ba là người Phụng Hiệp, hồi trẻ chạy ghe chở lúa thuê, sau mới xuống Cái Răng. Hỏi về bên ngoại, ba chỉ nói bên má con không còn ai, chết hết rồi. Nói vậy rồi thôi. Ba có cách khép miệng lại làm tôi biết không nên hỏi nữa.
Ba Láng cách chợ nổi chưa tới mười cây số. Nếu má là người Ba Láng thì sao cả đời tôi chưa từng được dắt về đó một lần.
Tôi tự nói với mình, đâu phải ai tên Mỹ cũng là má.
* * *
Chiều đó tôi nấu nồi canh chua cá linh, chiên thêm mấy con cá cơm. Hai cha con ngồi ăn ở sàn ghe. Ba ăn ít, uống rượu nhiều hơn mọi bữa. Tôi để ý trên bàn không có món gì có khoai.
Mà nghĩ lại thì nhà tôi chưa bao giờ có khoai lang. Không khoai luộc, không khoai nướng, không chè khoai. Hồi nhỏ tôi đi học về, đòi ăn khoai lang nướng của bà bán ở đầu cầu, ba cho tiền mua bánh mì chứ không cho mua khoai. Tôi cứ tưởng tại ba không ưa mùi.
Tôi hỏi ba sao nhà mình không bao giờ ăn khoai.
Ba đặt ly rượu xuống, nhìn ra rạch. Mặt nước đã ngả màu tím của buổi chiều, lục bình trôi từng mảng.
"Ba ăn khoai sình bụng. Con muốn ăn thì mua, ba đâu có cấm."
Rồi ba đứng dậy, đi vô khoang, kéo tấm màn xuống. Tôi ngồi dọn chén một mình.
* * *
Đêm đó tôi thức giấc vì lạnh, đồng hồ báo thức chưa reo.
Cái lạnh lùa vô từ khe vách ván, ướt, có mùi nước. Tôi kéo mền lên tới cổ. Bầy ếch dưới chân cầu mới còn kêu lúc tôi đi ngủ, giờ tắt hết, tắt cùng một lúc như có ai ra hiệu. Không có tiếng máy ghe nào đi đêm. Im kiểu khi sương đã xuống dày, nuốt hết mọi tiếng động.
Rồi tôi ngửi thấy nó.
Mùi khoai lang luộc. Ngọt, nóng, lẫn mùi rơm cháy. Mùi đó luồn qua khe vách ván, đi ngang mặt tôi, ấm như hơi thở của ai đó đang ngồi sát bên.
Tôi nằm im, không dám thở mạnh. Ở phía bên kia tấm màn, tiếng ngáy của ba đã tắt từ lúc nào. Tôi nghe tiếng ba trở mình, rồi tiếng ba ngồi dậy, rất chậm.
Rồi ba nói một câu, nhỏ tới mức tôi không chắc mình nghe đúng:
"Bữa nay chưa tới."