Chương 3: Nốt ruồi dưới mắt
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Sáng hôm đó tôi vẫn ra chợ. Sương dày, nhưng mười mấy mối quen đang chờ ly cà phê của tôi, mà tôi thì còn nợ tiền đá của người ta. Ba không cản. Ba ngồi ở mũi ghe nhà nhìn tôi tháo dây xuồng, điếu thuốc trên môi tắt từ lâu mà không đốt lại.
"Nhớ lời ba dặn."
Tôi dạ.
Sương bữa đó không dày bằng bữa trước, đứng ở lái còn thấy được mũi xuồng. Tay tôi rót cà phê như thường, mà mắt cứ dòm vô chỗ sương đặc nhất. Mỗi lần nghe mùi gì ngòn ngọt, tôi giật mình. Có khi chỉ là mùi chè của xuồng bên cạnh.
Tôi đang thối tiền cho một ghe khóm thì sương bỗng dày lên. Không phải từ từ. Như có ai kéo một tấm màn trắng từ phía vàm xuống. Tiếng người trên mấy chiếc ghe xung quanh nhỏ dần, rồi tắt. Tôi chỉ còn nghe tiếng nước vỗ dưới đáy xuồng mình.
Rồi tiếng nước cũng tắt.
Mùi khoai tới, rồi chiếc xuồng ba lá trườn ra từ khối trắng trước mặt. Lần này tôi để ý mái chèo của bà. Nó ướt đẫm, mà không một giọt nước nào nhỏ xuống.
Xuồng bà áp vô mạn xuồng tôi.
* * *
Tôi nhớ lời ba. Tôi không hỏi mua. Tôi ngồi im, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn xuống đáy xuồng.
"Bà hỏi thăm con nữa nè."
Giọng bà gần lắm. Tôi ngửi thấy mùi khoai, mùi rơm, và dưới hai mùi đó là một mùi khác, lạnh, tanh tanh, mùi của bùn non ở đáy sông chỗ nước xoáy.
"Con Mỹ đó, năm nay nó mười tám. Nó trắng, tóc dài, hay vấn kẹp. Dưới mắt trái nó có cái nốt ruồi nhỏ xíu. Nó đi theo một thằng chạy ghe. Con có thấy nó hông?"
Tôi ngẩng lên.
Tôi không định ngẩng lên. Cổ tôi tự làm chuyện đó. Vành nón bà vẫn che gần hết mặt, nhưng bà đang cúi xuống gần, và tôi thấy được nửa dưới gương mặt. Da nhăn, xám, ướt, như mặt người vừa ngoi lên khỏi nước. Môi bà mím lại.
Bà nhìn tôi lâu. Tôi biết bà nhìn chỗ nào. Tôi cảm thấy cái nốt ruồi dưới mắt trái mình nóng lên như bị ai dí đầu thuốc vô.
Bà đưa tay lên. Ngón tay trỏ, móng đen, run run, chạm vô gò má tôi, ngay chỗ nốt ruồi.
Lạnh. Lạnh như nước sông lúc bốn giờ sáng tháng Chạp. Cái lạnh không đứng lại ở da mà chạy thẳng vô xương hàm, lan xuống cổ.
"Hông phải," bà nói, nhỏ như nói với mình. "Hông phải. Mà giống quá."
Bà rút tay về. Bà giở lá chuối, bốc ba củ khoai bỏ lên mạn xuồng tôi, không hỏi, không đợi.
"Ăn cho ấm con. Sương lạnh."
Rồi xuồng bà lùi vô sương. Lần này tôi nhìn theo. Tôi thấy cái đuôi xuồng ba lá, thấy mái chèo nhúng xuống nước mà mặt nước phẳng lì như mặt kiếng. Rồi sương khép lại.
* * *
Tiếng máy ghe quanh tôi nổ lại từng chiếc một, rồi sương tan. Mọi thứ trở lại như chưa có gì. Chị Bảy ở xuồng bên kêu tôi rót cho chị ly cà phê sữa. Chị nhìn ba củ khoai trên mạn xuồng tôi, rồi nhìn mặt tôi.
"Má ơi, cái gì trên má em vậy?"
Tôi lấy cái kiếng nhỏ trong hộp thiếc ra soi. Trên gò má trái, ngay chỗ nốt ruồi, có một dấu tròn xám xanh bằng đầu ngón tay. Tôi lấy khăn chà. Nó không ra. Phải lấy nước sông rửa ba lần, chà tới đỏ da, nó mới mờ đi. Mà dưới lớp da đỏ, tôi vẫn còn thấy lạnh.
Chị Bảy không hỏi gì nữa. Chị trả tiền ly cà phê rồi bơi xuồng ra xa tôi một chút.
* * *
Lần này tôi không bỏ khoai vô thùng xốp. Tôi muốn coi nó biến ra đất lúc nào.
Tôi đem ba củ khoai về ghe nhà, giấu ba, đặt lên một cái dĩa nhôm, để trong cái tủ gỗ nhỏ ở góc khoang chỗ tôi ngủ. Trưa tôi mở ra coi, khoai vẫn là khoai, vỏ đỏ, ruột vàng. Chiều mở ra coi, vẫn là khoai, còn ấm. Mười mấy tiếng đồng hồ mà vẫn ấm như vừa vớt ra khỏi nồi.
Tối tôi không ngủ. Tôi nằm nghiêng, mặt hướng vô cái tủ gỗ, cánh tủ hé ra một khe. Ba ngủ bên kia tấm màn. Ngoài kia rạch im.
Khuya lắm, khoai vẫn còn bốc hơi nhẹ. Rồi bầy ếch dưới chân cầu im bặt, sương bắt đầu lùa vô qua khe vách, lạnh. Tôi thấy hơi khoai yếu dần, rồi tắt, như ngọn đèn hết dầu. Rồi tôi nghe một tiếng rất nhỏ trong tủ. Như tiếng ai bóp một nắm cơm nguội.
Tôi bật đèn pin, rọi vô.
Trên dĩa nhôm là ba cục đất sét xám xanh, ướt, mùi bùn. Mỗi cục có năm vết ngón tay lõm sâu. Tôi đếm, cục nào cũng năm. Có một cục, vết ngón cái lún sâu hơn hẳn mấy cục kia, sâu tới mức đất nứt ra một đường.
Trong đường nứt có cái gì lấp lánh màu đỏ.
Tôi lấy móng tay cạy ra. Đất sét lạnh, dẻo, bám vô kẽ móng. Thứ nằm trong đó là một cây kẹp tóc nhựa màu đỏ, nhỏ bằng hai lóng tay, hình con bướm. Một bên cánh bướm đã mẻ.
Tôi cầm cây kẹp, ngồi trong khoang ghe tối, nghe tim mình đập. Tôi đã thấy cây kẹp này rồi. Tôi không nhớ thấy ở đâu, mà bàn tay tôi nhớ. Nó vừa khít trong lòng bàn tay tôi như từng nằm ở đó, hồi tay tôi còn nhỏ hơn bây giờ nhiều.
Bên kia tấm màn, ba tôi đã không còn ngáy. Tôi nghe tiếng ba thở, chậm, cố giữ cho đều, như người đang giả bộ ngủ.