Chương 3: Kẹp tóc màu xanh
Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem
Mạ nhặt đôi thùng lên, quẩy đi suối như không có chuyện gì. Tôi chạy theo hỏi mạ có biết cái kẹp tóc ấy của ai không. Mạ đi nhanh, bước chân đạp bụi đỏ tung lên.
"Mạ không biết. Về nhà đi. Nắng lên rồi."
Mạ chưa bao giờ nói dối tôi giỏi. Hồi bé tôi đánh vỡ cái phích Rạng Đông, mạ nói với bọ là con mèo làm, mắt mạ nhìn xuống đất y như bây giờ.
Tôi về hỏi bà nội. Bà đang ngồi nhặt sạn trong rá gạo, nghe tôi hỏi thì tay vẫn nhặt, mắt không ngẩng lên. Một lúc sau bà mới nói, giọng nhỏ, như sợ có người ngoài hàng rào nghe được.
"Của bá Hiền mi. Chị ruột mạ mi."
Tôi biết mình có một người bá chết trẻ, nhưng ở nhà không ai nhắc. Trên bàn thờ bên ngoại có một tấm ảnh nhỏ, cô gái tóc dài, mặt tròn, cười không hở răng. Ảnh chụp ở hiệu ảnh huyện, đã ố vàng. Hồi nhỏ tôi hỏi, bà ngoại chỉ nói bá chết đuối năm mười tám tuổi, rồi lảng sang chuyện khác.
Bà nội kể bá Hiền chết năm 1977. Năm ấy cũng hạn, cũng gió Lào. Bá đi tát nước ở bàu sau làng, trượt chân, chết đuối. Mạ tôi với bá là chị em sinh đôi, bá ra trước mạ một khắc, năm ấy cùng mười tám. Mạ khóc mấy tháng liền, không nói được, rồi mới dần nguôi.
Tôi ngồi nghe, rồi hỏi một câu mà chính tôi cũng không biết sao nó bật ra.
"Năm hạn thì bàu cạn rồi chứ bà. Răng mà chết đuối được?"
Bà nội dừng tay. Một hạt sạn nằm giữa hai ngón tay bà, bà cầm mãi không bỏ.
"Mi hỏi nhiều quá. Đi nấu nồi cám cho lợn."
* * *
Mấy hôm sau, tôi bắt đầu để ý người làng đối với tôi khác đi.
Ra ngõ gặp ai, người ta cũng dúi cho một thứ gì. Thím Lài thêm mấy quả trứng. Ông Hai Thuyên cho một bắp ngô luộc, ngô hạn hạt lép mà ông vẫn chọn bắp to nhất. Bà Lự đang góa bụa, nghèo rớt, cũng đưa cho tôi một gói đường phèn bọc lá chuối. Bà nắm tay tôi lâu, vuốt mu bàn tay tôi như vuốt một con mèo, rồi buông ra đột ngột, quay đi.
Bọn con nít cùng xóm thì thôi không rủ tôi ra đầu đình chơi nữa. Thằng Tâm, bạn học cùng lớp với tôi từ cấp hai, con trai thím Lài, gặp tôi ngoài đường thì cúi mặt đi qua. Tôi gọi nó, nó dạ một tiếng rồi đi nhanh hơn.
Còn một chuyện nữa, nhỏ thôi, mà tôi phải mất mấy ngày mới nhận ra. Không ai gọi tên tôi nữa.
Trước đây ra ngõ, người ta gọi "Nhàn ơi, đi mô rứa". Giờ thì người ta gọi "cháu bà Tư", hoặc "con bé nhà ni", hoặc chỉ "con". Có lần bà Cửu đứng ở cổng gọi vào, gọi "đứa con gái nhà bà Tư đâu rồi", trong khi tôi đứng ngay trước mặt bà. Tôi nghĩ người già hay quên. Nhưng cả làng cùng quên một lúc thì không phải quên.
* * *
Đáy giếng mỗi ngày thêm một món.
Sau cái kẹp tóc là một con quay gỗ sơn đỏ, đã sứt một mảnh. Của thằng cu Tèo nhà ông Hai Thuyên, chết đuối ở sông Ngàn Sâu năm 1993, lúc nó bảy tuổi. Ông Hai Thuyên nhìn xuống giếng rồi ngồi thụp xuống bên thành giếng, ôm mặt. Hôm trước ông cho tôi bắp ngô. Hôm ấy ông thấy tôi đi qua thì ông nhìn theo, ánh mắt tôi không đọc ra là gì, như vừa thương vừa nhẹ nhõm.
Rồi một cái bi đông bộ đội méo, sơn xanh đã tróc, của anh Thành con bà Cửu, hy sinh ở Campuchia năm 1979. Bà Cửu đứng nhìn rất lâu, rồi lấy vạt áo chấm mắt, rồi chắp tay vái xuống giếng ba vái.
Rồi một cái bát sành mẻ miệng, rồi một cái nón lá rách quai, rồi một chuỗi hạt cườm đứt dây. Mỗi món một chủ. Mỗi sáng một người già trong làng ra đứng nhìn rồi nhận ra.
Tất cả đều nằm thành một vòng tròn quanh lòng giếng, đều quay vào giữa. Chỗ giữa vẫn trống, một khoảng bùn khô to cỡ cái nia.
Chiều hôm ấy tôi ngồi với bà Lự ở gốc đa đầu làng. Bà đếm trên đầu ngón tay, môi mấp máy.
"Chín cái rồi. Chừ thêm vài cái nữa... là đủ."
Tôi hỏi đủ thì sao. Bà nhìn lên trời, trời trắng như vôi, không một gợn mây.
"Đủ thì mưa. Năm nớ cũng y như ri."
Tôi hỏi năm nào. Bà Lự mở miệng định nói thì có tiếng guốc mộc lóc cóc phía sau. Ông Cửu Đạm đi ngang qua, dừng lại nhìn hai bà cháu, cười hiền. Bà Lự ngậm miệng, đứng dậy phủi đít quần, về.
* * *
Tối hôm đó mạ không ngủ ở giường mạ. Mạ ôm chiếu vào buồng tôi, trải dưới đất, cạnh giường tôi. Tôi hỏi mạ sao vậy, mạ nói buồng mạ nóng, gió không lọt.
Tôi nằm quay mặt vào vách, nghe tiếng mạ trở mình. Mạ không ngủ. Tôi biết vì hơi thở mạ không đều, cứ thỉnh thoảng lại ngừng hẳn một lúc như người đang nghe ngóng.
Con chó nhà thím Lài sủa ran từ chập tối bỗng ư ử một tiếng rồi im bặt. Ròng rọc rít lên một tiếng dài, khựng lại giữa chừng như có ai giữ dây, rồi mới kẽo kẹt tiếp.
Tôi nghe mạ ngồi dậy. Tiếng vải sột soạt. Mạ quỳ ở đầu chiếu, mặt quay về phía cửa sổ, phía cái giếng. Trong bóng tối mạ thì thầm, rất nhỏ, đều đều như người đọc kinh.
"Chưa mà. Chưa mà. Chưa tới ngày mà."