☾ Truyện Ma Có Thật
← Giếng làng cạn đáy

Chương 4: Ai kéo gàu đêm

Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem

Đêm sau đó mạ vẫn trải chiếu ngủ trong buồng tôi. Nhưng mạ đã thức trắng mấy đêm liền, lại gánh nước suối từ sáng sớm, nên chưa tới mười một giờ mạ đã ngủ say, ngáy khẽ. Tay mạ gác lên mép giường tôi, như để biết nếu tôi trở dậy.

Tôi nằm chờ. Đồng hồ con gà kêu tích tắc. Gió Lào đêm vẫn thổi, đẩy cánh cửa sổ kêu cạch cạch vào song gỗ. Mùi đất khô, mùi rơm cháy từ đồng bên kia vọng sang. Có đêm người ta đốt gốc rạ cho đỡ sâu, lửa đỏ một vệt dài dưới chân núi.

Khi dế ngoài bờ rào còn kêu, tôi nhấc tay mạ ra khỏi mép giường, nhẹ như nhấc một cành củi khô. Mạ không tỉnh. Tôi đi chân đất ra cửa sau, men theo bờ rào, đến ngồi thụp sau bụi dâm bụt sát giếng. Từ đó tôi nhìn được cái giá tre, cái ròng rọc, sợi dây thừng buông thõng xuống miệng giếng, đầu dây buộc vào cái gàu tôn treo lơ lửng.

Không có ai. Không một tiếng chó sủa. Cả làng nằm im dưới một bầu trời đầy sao, sáng tới mức tôi thấy được bóng mình trên đất.

* * *

Con dế kêu ngay sát chân tôi ngưng giữa chừng. Rồi cả bờ rào im. Từ miệng giếng trào lên một luồng hơi lạnh, lạnh như mở nắp chum nước giữa trưa, làm da tay tôi nổi gai.

Cái ròng rọc khẽ nhích. Tôi tưởng gió. Rồi nó quay hẳn một vòng, kẽo kẹt, và sợi dây thừng bắt đầu chạy xuống. Cái gàu tôn từ từ chìm vào miệng giếng, như có một bàn tay vô hình đang thả dây, thả từng sải một, không vội.

Tôi ngồi cách đó chưa tới năm bước. Tôi nhìn rõ sợi dây cọ vào gỗ ròng rọc, rõ từng thớ thừng xoắn lại. Không có tay ai trên dây.

Dây chạy xuống lâu lắm. Giếng sâu chín sải, vậy mà dây cứ chạy, chạy hết chín sải, rồi mười, mười hai, cho tới khi cuộn dây dự phòng buộc ở chân giá tre cũng duỗi thẳng ra. Rồi dây dừng. Căng. Rung nhẹ.

Dưới đáy giếng vọng lên một tiếng. Không phải tiếng gàu chạm đất khô. Là tiếng "ộp" của tôn ngập nước, rồi tiếng ọc ọc của nước tràn vào gàu.

Rồi ròng rọc quay ngược. Dây được kéo lên, chậm và nặng, ròng rọc rít lên dưới sức nặng ấy. Tôi nghe tiếng nước nhỏ giọt từ đáy gàu xuống lòng giếng, tách, tách, mỗi lúc một gần.

Cái gàu nhô lên khỏi miệng giếng. Nó đầy nước. Nước sóng sánh, tràn qua miệng gàu, chảy dọc xuống thành giếng đá ong, để lại một vệt sẫm. Gàu lên tới ròng rọc thì dừng, đung đưa một lúc, rồi đứng yên.

Ròng rọc không quay nữa.

Tôi không biết mình ngồi đó bao lâu. Hai chân tê dại. Trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ rất vô lý: mười mấy ngày nay cả làng không có một gàu nước nào ngon như thế.

Tôi đứng dậy, bước tới. Tay tôi chạm vào thành giếng, đá ong ướt và lạnh. Tôi kiễng chân nhìn vào cái gàu.

Nước trong gàu đen như mực, trên mặt nổi một lớp váng bụi. Mùi bùn ao xộc lên, lẫn một mùi khác mà tôi biết rất rõ, mùi bồ kết với lá sả. Mùi tóc tôi hôm mạ gội. Giữa mặt nước, một sợi tóc dài nằm cuộn lại thành vòng, đen bóng, dài hơn cả sải tay tôi.

Tôi lùi lại. Rồi tôi quay người chạy về nhà, không dám nhìn xuống lòng giếng.

* * *

Sáng ra, cái gàu đã khô, treo ở ròng rọc như mọi khi. Không ai nói đến vệt nước trên thành giếng. Mặt trời mới lên một con sào đá ong đã khô cong, trắng ra như chưa từng ướt.

Đáy giếng có thêm một món mới, một cái gương tròn nhỏ có khung nhựa hồng, loại gương con gái hay để trong túi. Mặt gương úp xuống. Bà Lự nhìn rồi nói của con Thoa nhà ông Bảng, chết vì sốt rét năm 1986. Mười tám tuổi. Bà nói thêm câu ấy rất khẽ, như nói cho mình nghe.

Mười tám tuổi. Tôi đứng lặng một lúc, rồi tự trấn an. Người ta chết ở tuổi nào chẳng có.

* * *

Buổi trưa tôi chặn được thằng Tâm ở bờ mương cạn, lúc nó đi cắt cỏ cho trâu. Nó định lách qua, tôi nắm lấy quai sọt.

"Răng mi không nói chuyện với tau nữa?"

Tâm nhìn quanh. Bờ mương trống trơn, chỉ có cỏ cháy vàng và mấy con cò gầy đứng một chân.

"Mạ tau dặn. Không được chơi với mi cho tới sau rằm."

Tôi hỏi vì sao. Nó nói nó không biết. Nó chỉ nghe mạ nó với ông Cửu nói chuyện ở đình, rằng năm nào hạn lớn làng cũng làm lễ dâng nước, lần trước là năm 1977, lần trước nữa thì từ hồi chống Mỹ. Nó nói mạ nó bảo tôi có phước, được đứng đầu lễ, cả làng nhờ tôi.

"Nhờ cái chi?"

Tâm lắc đầu. Nó nhìn tôi, mắt đỏ lên một chút, rồi quay mặt đi.

Tôi kể cho nó nghe chuyện cái gàu đêm qua. Nó không cười như tôi tưởng. Nó im rất lâu, rồi nói một câu làm tôi bất ngờ.

"Mai tau với mi xuống. Tau đem dây nhà tau. Xuống coi cho biết. Đồ người chết mà tự bò ra được à... tau không tin."

Tôi gật đầu. Hai đứa hẹn trưa mai, giờ cả làng ngủ trưa.

Tôi về đến ngõ thì đứng sững lại. Trên dây phơi ngoài sân nhà tôi, ai đó đã đem chiếc áo cánh trắng ra phơi. Chiếc áo không cúc, mạ đã cất dưới đáy rương. Gió Lào thổi qua, hai ống tay áo dài phồng lên, đưa qua đưa lại về phía cái giếng, như đang vẫy một người đứng ở đó.