☾ Truyện Ma Có Thật
← Giếng làng cạn đáy

Chương 8: Lời bà nội

Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem

Sáng mười ba, tôi chưa kịp ra giếng thì người làng đã kéo đến đứng chật sân giếng. Tiếng xì xào lọt qua hàng rào dâm bụt, rồi tắt ngấm khi bà nội tôi bước ra ngõ.

Tôi đi theo bà. Người ta dạt ra hai bên nhường lối, không ai nhìn thẳng vào bà.

Dưới đáy giếng, cây đèn pin của bọ tôi nằm nghiêng ngoài vòng tròn, đã tắt, vỏ nhôm móp một bên. Còn ở chính giữa, ngay trong cái hõm hình người ngồi quỳ, có một cây kéo cắm thẳng đứng. Hai lưỡi kéo ngập vào bùn khô, hai cái quai sắt đen chìa lên như hai con mắt.

Cây kéo cắt vải của bà nội. Cái quai bên trái bà quấn một vòng dây chun đỏ cho đỡ đau tay, cả xóm ai cũng biết. Tôi đứng nhìn sợi chun đỏ ấy, nghĩ đến lúc thò tay vào túi áo đêm qua mà túi trống không.

Người làng quay sang nhìn bà nội. Thím Lài đưa tay bịt miệng. Bà Lự lẩm bẩm gì đó, chắp tay vái về phía bà nội như vái một người sắp đi xa.

Bà nội tôi đứng thẳng lưng, nhìn xuống giếng. Gương mặt bà không có vẻ gì sợ. Bà gật đầu một cái, chậm, như người vừa nhận một món đồ đúng hẹn.

"Thấy chưa. Giếng chỉ bà rồi."

* * *

Trưa hôm ấy bà nội đóng cửa buồng, kéo tôi ngồi xuống mép giường tre của bà. Mạ đi suối chưa về. Ngoài sân nắng chang chang, con gà mái nằm xoè cánh dưới gốc mít, mỏ há ra thở.

Bà kể. Bà kể chậm, có chỗ dừng lại rất lâu, như phải lội qua một khúc sông sâu mới tới được câu sau.

Làng Kẻ Dừa có lệ dâng nước từ đời nào không ai biết. Năm nào hạn lớn, giếng cạn trơ đáy, thì người khuất trong làng đem đồ của mình về, mỗi đêm một món. Đó là họ về ngồi chờ. Đến khi giếng chỉ ra người, làng làm lễ đêm rằm. Người được chỉ mặc áo trắng không cúc, cầm theo món đồ của mình, ngồi xuống đáy giếng, vào cái chỗ trống ở giữa.

Sáng hôm sau, nước về. Trời mưa.

Tôi hỏi, còn người dưới đáy giếng thì sao. Bà nội không trả lời ngay. Bà nhìn ra cửa sổ, về phía cái giá tre.

"Người ta vớt lên lúc nước đầy. Ngồi y nguyên. Mắt mở. Tóc xoã trên mặt nước."

Tôi nghe trong ngực mình có cái gì rơi xuống, rơi mãi, như cây đèn pin đêm qua.

Bà kể năm 1977, giếng chỉ bá Hiền. Làng vớt bá lên vào sáng mười sáu tháng Bảy, mưa đổ như trút. Bên ngoại nói với người ngoài là bá chết đuối ở bàu, vì chết ở giếng làng thì không ai dám gánh nước về ăn nữa. Người trong làng biết, nhưng không ai nói. Cũng như năm 1966, năm 1946. Cũng như những năm xa hơn, không còn ai nhớ.

Tôi hỏi bà, trong sổ ở đình, dòng năm 1977 có một cái tên bị gạch. Tên ai.

Bà nội nhìn tôi rất lâu.

"Ông Cửu viết sai, gạch đi viết lại. Người già mắt kém."

Lần này bà nói nhanh, không dừng lại chỗ nào. Hôm ông Cửu hỏi giờ sinh, bà cũng đáp nhanh như vậy.

* * *

Bà đứng dậy, mở cái rương gỗ ở góc buồng, lấy ra một bọc vải. Trong bọc là một bộ áo quần bằng vải trắng thô, gấp vuông vắn, mép vải đã ngả màu cháo lòng vì cất lâu năm. Áo không cúc, chỉ có dây buộc.

Bộ áo bà may sẵn cho ngày bà chết. Người già ở làng tôi ai cũng có một bộ như vậy dưới đáy rương.

"Bà bảy mươi ba rồi. Sống thêm cũng rứa. Giếng chỉ bà thì bà đi. Mi đừng có khóc."

Tôi nói giếng chỉ con gái mười tám tuổi. Trong sổ toàn con gái mười tám tuổi. Bà nội lắc đầu, nói giếng muốn ai là người nấy. Cây kéo của bà nằm đó, chính giữa, ai cũng thấy.

Tôi nghĩ đến lúc thò tay vào túi áo. Tôi nghĩ đến bàn tay bà nội túm cổ áo tôi kéo ra khỏi thành giếng, khỏe một cách lạ lùng. Tôi không dám nghĩ tiếp.

Tôi hỏi bà, mạ có biết không. Bà gấp bọc áo lại, cất vào rương.

"Mạ mi biết hết. Mạ mi thương mi theo kiểu của mạ mi."

Tôi không hiểu. Bà cũng không giải thích. Bà nói tôi nằm nghỉ đi, ngày kia là rằm rồi.

* * *

Chiều tôi ngồi một mình ở bậc thềm sau nhà. Tôi nghĩ đến chuyện bỏ trốn. Ra quốc lộ, đón xe khách ra Vinh, tìm thằng Tâm. Nhưng đi rồi thì bà nội ở lại. Giếng chỉ bà. Tôi đi hay ở thì bà vẫn phải xuống.

Rồi tôi lại nghĩ, nếu giếng chỉ bà, sao người làng vẫn gọi tôi là "con bé nhà bà Tư". Sao ông Hai Thuyên vẫn nhìn tôi bằng ánh mắt nhẹ nhõm ấy. Sao thím Lài vẫn mang trứng sang, lần này là cả một rổ.

Đêm xuống. Trăng mười ba vừa lên khỏi rặng tre. Tôi nằm trên giường, không ngủ. Gần nửa đêm, tôi nghe tiếng người nói thì thầm dưới bếp. Tiếng mạ và tiếng bà nội. Tôi rón rén ra nấp sau tấm phên nứa ngăn gian bếp.

Bếp không đốt đèn. Chỉ có ánh than hồng trong lò, đỏ lờ mờ trên mặt hai người.

"Mạ đừng làm rứa nữa. Mạ tự ném cây kéo xuống thì giếng có tính mô."

Tiếng mạ khàn đặc, như người khóc lâu rồi.

"Năm nớ mạ đẻ con cũng đòi đi thay. Mạ con cũng ném cái nón xuống. Giếng có nhận mô, mạ."