Chương 12: Hai mươi ba tháng Chạp
Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem
Sáng hai mươi ba, mẹ lấy dây thép buộc cổng. Buộc ba vòng, xoắn chặt bằng kìm. Mẹ bảo tôi, hôm nay ai gọi cũng không ra, ai đến cũng không mở, có cháy nhà bên cạnh cũng ngồi yên.
Mẹ bày lễ ông Táo từ sớm. Mũ giấy, cá chép giấy, xôi, gà. Con cá chép sống thì mẹ mua từ hôm qua, thả trong chậu nhôm để ở hiên, cá đỏ quẫy làm nước sóng ra sân. Mẹ khấn ngắn, không nhìn vào bàn thờ, nhìn vào lưng tôi đang ngồi ở hiên. Khấn xong mẹ mang chậu cá ra ao sau nhà, cái ao bèo nhỏ nhà nuôi vịt, đổ ụp. Cá quẫy một cái rồi mất dưới bèo.
"Ao nhà cũng là nước. Ông Táo không chấp."
Rồi hai mẹ con ngồi. Mẹ ở hiên, tôi ở bậc cửa. Trời xám, không mưa, rét ngọt. Tiếng pháo giấy nhà ai bên kia đồng. Tiếng trẻ con reo thả cá ở mương. Tôi ngồi nhìn cái cổng buộc dây thép, nhìn con đường ngoài cổng, nhìn trời.
Gần trưa, thằng Tèo con bác Hoà hàng xóm trèo lên tường gọi vọng vào. Nó bảo có anh gì ở lò gạch nhờ nó nhắn: chiều anh ấy ra cống đợi, tối cũng đợi. Mẹ đứng dậy đuổi nó xuống. Mẹ không mắng. Mẹ chỉ bảo, về đi cháu, hôm nay nhà bác không tiếp ai.
Tôi ngồi lại bậc cửa. Mẹ ngồi lại hiên. Chúng tôi không nói gì với nhau suốt bữa trưa.
* * *
Chiều xuống. Tiếng trẻ con ngoài mương thưa dần rồi tắt. Tôi nghĩ đến anh Khoa đứng ở bờ cống, túi cá trên tay, xe máy dựng ở bờ đê, gió bấc thổi qua lau. Tôi ngồi yên. Hai tay tôi kẹp giữa hai đùi cho khỏi run.
Trời xẩm. Mẹ đứng dậy bật đèn tròn ở hiên. Bóng đèn chập chờn mấy lượt mới sáng, mẹ đứng nhìn nó, rồi ngồi xuống đúng chỗ cũ.
Tối hẳn. Con chó nằm dưới gầm phản bỗng đứng dậy, quay mặt ra phía đồng, không sủa. Tôi vẫn ngồi. Mẹ vẫn ngồi. Tôi bắt đầu nghĩ, không có gì cả, hôm nay không có gì cả, không phải năm nay. Tôi không dám nghĩ hết câu.
Con chó nằm xuống lại. Rồi có tiếng xe máy ngoài đường. Tắt máy trước cổng. Rồi tiếng gọi, khàn, đứt quãng:
"Bác ơi. Ngần ơi. Mở cổng cho anh."
Mẹ không đứng dậy. Mẹ nhìn tôi. Tôi nhìn mẹ. Rồi mẹ lấy kìm.
Anh Khoa đứng ngoài cổng, ướt từ ngực xuống. Quần dính vào chân, áo bông sũng nước nặng trĩu, môi tím, răng va vào nhau. Tóc anh dính lá lau. Anh nói, anh đợi, trời tối, anh xuống bậc cống thả cá cho xong thì bậc lở, anh tụt xuống khe. Nước đến ngực. Nông thôi. Anh bò lên được.
"Nông mà lạnh quá bác ạ. Cháu không ngờ."
Mẹ nhìn anh. Nhìn lâu. Rồi mẹ nhìn sang tôi, đứng sau mẹ, khô, áo sơ mi dày, tóc buộc đuôi gà.
Mẹ nói với anh, giọng thường:
"Vào bếp. Đốt trấu lên. Ngần, lấy quần áo của bố cho anh thay."
Mẹ gọi tên tôi. Tôi chạy đi lấy quần áo.
Đêm ấy anh Khoa ngủ lại ở gian giữa, trùm hai cái chăn. Tôi nằm trong buồng. Mẹ nằm ngang cửa. Khuya, lúc gà gáy lượt đầu, tôi nghe mẹ dậy, ra điện, mở ngăn tủ, viết gì đó vào sổ. Rồi khoá. Rồi về nằm. Rồi mẹ ngủ, lần đầu tiên từ rất lâu tôi nghe tiếng mẹ ngủ.
Hai mươi ba tháng Chạp năm ấy qua.
* * *
Đó là chuyện gần hai mươi năm trước.
Tôi không đi Cẩm Phả. Tôi lấy anh Khoa năm hai nghìn lẻ chín, ở lại Đông Lâm, ở lại nhà này. Điện thờ mẹ đóng từ năm ấy. Không ai đến gọi hồn nữa, mẹ cũng không gọi. Mẹ cất chuông, cất khăn đỏ. Bàn thờ chỉ còn ông bà. Mẹ mất năm hai nghìn mười chín, nhẹ, trong giấc ngủ, tháng Tư.
Chúng tôi có hai đứa con. Đứa con gái tôi đặt tên là Thư. Không phải Ngần.
Mẹ nói chuyện với tôi bằng giọng thường từ sau đêm ấy. Trừ một ngày mỗi năm. Hai mươi ba tháng Chạp, từ sáng, mẹ lại nhìn chếch lên vai tôi, lại gọi con ơi bằng cái giọng ấy, lại buộc cổng. Chiều tối qua ngày, mẹ lại là mẹ. Năm cuối cùng mẹ không nói được nữa, mẹ nắm cổ tay tôi, ngón cái run run tìm mạch, tìm mãi mới thấy, rồi gật đầu. Năm nay chưa.
Tôi vẫn ở nhà ngày ấy. Năm nào cũng ở nhà. Anh Khoa mang cá ra ao sau nhà thả, không đi đâu khác. Anh không hỏi. Ống chân anh còn vết sẹo từ cái bậc cống lở năm ấy, trời trở rét là tím lên.
Cuốn sổ bìa xanh tôi để trong ngăn tủ thờ, khoá, chìa đeo cổ. Tôi không mở. Tôi không muốn biết mẹ viết gì đêm ấy.
Nhưng mùa đông vừa rồi, dọn hòm gỗ của mẹ để lấy chăn, tôi thấy nó.
Dưới đáy hòm, dưới tờ giấy báo cũ, gấp vuông vắn. Cái áo len màu gạch non. Cổ lọ, gấu đan nổi, đường đan đều. Còn nguyên. Không một vết cháy. Hơi ẩm, và thơm mùi lá lau tươi.
Tôi đã thấy nó cháy. Tôi đã ngửi mùi khét. Tôi đã nhìn mẹ hất tro vào gốc chuối.
Tôi mặc thử. Trong buồng mẹ vẫn không có gương, tôi chỉ nhìn xuống người mình. Nó vừa. Vai rộng đúng bằng vai tôi bây giờ, tay dài đúng chỗ cổ tay đã to ra, gấu chạm đúng cái hông sinh hai lần. Mẹ đan năm tôi mười chín. Giờ tôi gần bốn mươi, mà nó vẫn vừa, như có ai đan lại theo tôi từng năm.
Con Thư đứng ở cửa buồng hỏi, áo của ai đấy mẹ.
Tôi cởi ra, gấp lại, đặt về chỗ cũ dưới tờ giấy báo, đậy chăn lên. Tôi bảo nó, áo bà ngoại đan.
Tôi không đốt. Đốt thì tôi cũng không lấy được.