Chương 7: Chuyện ông Cối
Khoảng 4 phút đọc·8lượt xem
Tháng Chín, tôi đi chợ Yên về, thấy khói ở sân.
Mẹ đang đốt. Không phải vàng mã. Một đống quần áo, trên cái mâm nhôm cũ, lửa đã bén được nửa. Tôi nhận ra cái áo phông xám tôi mặc hôm ra cống, cái quần bò bạc gối, hai cái áo sơ mi đi học. Và cái áo dài trắng.
Tôi lao vào. Tôi kéo cái áo dài ra khỏi lửa, đập xuống sân, tà áo cháy đến gần eo, vải cứng lại và đen, mùi khét bám vào tay. Tôi hét lên với mẹ. Tôi không nhớ hét gì. Mẹ ngồi xổm bên mâm, que cời trong tay, nhìn tôi hét mà không dừng cời.
"Gửi cho con. Con mặc gì mà về mẹ cũng không biết, gửi trước cho có."
"Con ở đây! Con mặc ở đây! Mẹ đốt đồ của con!"
Mẹ gật đầu. Mẹ gật kiểu người ta gật với lời khấn, nghe thấy, ghi nhận, không đổi gì. Mẹ cời cho đống áo cháy hết rồi hất tro ra gốc chuối.
Tôi mang cái áo dài cháy dở vào buồng, gấp lại, để dưới đáy hòm. Tôi còn ba bộ quần áo. Mẹ không đốt áo đang phơi.
* * *
Tối ấy mẹ đan ở hiên như mọi tối. Cái áo len đã có thân, đã có một tay. Màu gạch dưới bóng đèn tròn ngả sang màu đất nung. Tôi ngồi xuống bậc thềm cách mẹ một quãng. Tôi hỏi, mẹ ơi, tại sao trong điện không được đọc tên người sống.
Mẹ đan thêm vài hàng. Tôi tưởng mẹ sẽ bảo đừng hỏi. Nhưng mẹ nói:
"Bà ngoại dặn."
Bà ngoại tôi mất năm tôi lên ba, tôi không nhớ mặt. Tôi chỉ biết bà tên Duyên, ở Gia Lộc, và người ta bảo bà cũng có căn như mẹ.
Mẹ kể. Mẹ kể chậm, mỗi hàng đan một câu.
Hồi ấy là đầu những năm sáu mươi. Bà ngoại gọi hồn chui, trong buồng, cửa đóng, vì công an xã bắt. Có một nhà ở thôn bên đưa sang tờ giấy ghi tên người mất, nhờ bà gọi. Giấy viết chen chúc, tên người mất và tên người nhà lẫn vào nhau. Bà đọc nhầm. Bà đọc đúng tên ông Cối, hàng xóm nhà ấy, người cầm giấy sang, lúc ấy đang ngồi ở góc buồng hút thuốc lào.
"Có cái về không mẹ?"
"Có."
Mẹ không nói cái về nói gì. Mẹ chỉ nói, nó nói lung tung, bà không hiểu, và nó nói bằng giọng ông Cối, mà ông Cối thì đang ngồi đấy, điếu cày trên tay, nghe giọng mình từ miệng bà. Ông Cối về nhà. Ông không sao. Ông sống bình thường.
Nhưng bà ngoại thì không.
Từ hôm ấy, mỗi lần ông Cối đi ngang ngõ, bà ngoại lại chào ông bằng giọng chào người đã khuất. Bà hỏi ông dưới ấy có lạnh không. Bà để phần cơm cho ông ở bậc cửa. Người làng cười bà. Ông Cối giận, không đi ngõ ấy nữa. Vợ ông sang chửi. Bà ngoại chỉ nói, tôi nhìn ông ấy thì thấy hai người, tôi không tách ra được.
"Rồi ông ấy làm sao?"
"Ông ấy mất. Sau đấy mấy năm."
"Vì bà gọi?"
Mẹ dừng đan. Mẹ nhìn vào cuộn len.
"Mẹ không biết vì gì. Bà bảo không phải vì bà. Bà bảo bà chỉ nhìn thấy trước thôi."
Tôi hỏi ông ấy mất thế nào. Mẹ nói mẹ không nhớ. Tôi biết mẹ nhớ. Mẹ đan tiếp, nhanh hơn.
* * *
Tôi đã đọc tên mình. Mẹ nhìn tôi thì thấy hai.
Nhưng chị tôi, tôi nghĩ. Hồn về là chị tôi, vì chị cũng tên Ngần. Chuyện ông Cối là chuyện khác. Ông Cối không có ai trùng tên đã mất. Tôi có. Tôi bám vào điều ấy như bám vào thành giường.
Tôi thiếp đi lúc nào không biết. Tôi tỉnh vì tay mình bị nắm.
Mẹ ngồi ở mép giường, trong tối, không bật đèn. Mẹ nắm cổ tay tôi, ngón cái đặt lên mạch, như hôm tôi ở cống về. Tôi nằm im, mắt nhắm, thở đều. Tôi không muốn mẹ biết tôi thức.
Mẹ ngồi thế rất lâu. Rồi mẹ đếm. Đếm thì thầm, không phải đếm nhịp mạch, chậm hơn nhiều, mỗi số cách nhau một hơi thở.
"Một. Hai. Ba."
Tôi không nghe được mẹ đếm đến bao nhiêu. Đến một chỗ nào đó mẹ dừng, giữa chừng, như người đếm chưa hết mà không dám đếm nữa. Mẹ ngồi im một lúc. Rồi mẹ cúi xuống, áp má vào mu bàn tay tôi, và nói bằng cái giọng ấy, nhưng lần này có cái gì vỡ ở trong:
"Còn ấm. Hôm nay còn ấm."
Mẹ đứng dậy đi ra. Tôi nằm nghe tiếng chân mẹ về buồng, rồi tiếng mẹ không ngủ, trở mình, trở mình.
Tôi không biết mẹ đếm cái gì. Ngày, tuần, hay năm. Tôi nằm im đến sáng, sợ cả tiếng mình thở cũng thành một câu hỏi.