☾ Truyện Ma Có Thật
← Hồn gọi ở công trình

Chương 9: Cái nón treo ở lán

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Cái lon tôi nhặt trên bậc thềm sáng hôm đó là một lon bia đã đập dẹp, sạch sẽ, như vừa rửa. Tôi bỏ nó vô cái bao tải của Thắng sau lán, rồi đi xuống hầm.

Người tới đông hơn tôi tưởng. Hai cán bộ công an quận, một bác sĩ pháp y đeo khẩu trang, anh Khoa, một kỹ sư kết cấu bên công ty cử xuống, mặt khó chịu. Chị Hồng đứng sát miệng hố, ôm một cái giỏ nhựa đựng nhang đèn. Chú Tư đứng xa nhất, gần chân dốc, đội cái mũ vải sụp xuống tới mắt. Thằng Phúc xin theo tôi, tôi gật.

Chị Hồng thắp nhang, khấn nhỏ. Tôi nghe được mấy chữ, má ơi, con đây, người ta đào má lên.

Thợ đục phá lớp bê tông đáy hố ở góc đông bắc, rồi cắt một mảng vách. Máy đục chạy cả buổi sáng. Bụi bê tông bay mù, lẫn với mùi chua bốc lên mỗi lúc một nặng, tới mức ông kỹ sư kết cấu phải lên trên đứng. Gần trưa, mũi đục chạm vào một lớp gạch thẻ cũ, xếp nghiêng, vữa vôi đã mủn. Đó là thành bể.

Họ đào tay từ đó. Đất trong bể không phải đất san nền mà là gạch vụn, ngói vỡ, bùn đen nhão, càng xuống càng ướt. Thợ xúc từng xô chuyền lên. Bác sĩ pháp y đứng dưới hố, bảo dừng mỗi khi xẻng chạm vật cứng.

Đầu giờ chiều, ông bảo dừng hẳn.

Trong lớp bùn sát đáy bể, bà Sáu nằm nghiêng, co người, hai tay co lên trước ngực. Xương đã đen màu bùn. Quanh bà là lon nhôm, hàng chục cái, lẫn với xác cái bao tải đã mục thành từng sợi. Lon nào cũng bị đập dẹp, xếp thành từng chồng.

Trong vòng tay xương có một cái hộp thiếc đựng bánh quy, nắp rỉ dính chặt. Pháp y cạy ra. Bên trong là mấy xấp tiền polyme cuộn bằng dây thun đã chảy nhão. Một tấm chứng minh nhân dân bọc ni lông, tên Nguyễn Thị Sáu, sinh năm 1946, quê Chợ Lách, Bến Tre. Thêm một cây kẹp tóc đen, cặp với cây tôi đã nhặt được.

Không có cái nón nào trong bể. Pháp y lục kỹ lớp bùn tới tận đáy gạch. Không có.

Chị Hồng ngồi thụp xuống mép hố. Chị không khóc ra tiếng. Chị chỉ nói đi nói lại một câu, giọng như nói với đứa con nít.

"Má ơi. Má nằm đây hoài mà con hổng biết."

Chú Tư quỳ xuống chỗ chân dốc, trán áp xuống sàn hầm. Không ai kéo chú dậy.

Giám định gen mất hơn một tháng mới có kết quả, trùng khớp với chị Hồng. Công an mời chú Tư lên làm việc nhiều lần. Người ra lệnh đã chết, chuyện đã chín năm, chú Tư là người tự khai. Vụ việc khép lại bằng mấy tờ biên bản, không có phiên tòa nào. Chú Tư bán cái xe nước mía, về Chợ Lách theo chị Hồng làm đám cho bà Sáu, chịu đội khăn tang như con cháu trong nhà. Nghe nói chú ở lại dưới đó, làm vườn thuê.

Công ty phải làm lại phương án móng cho phần lõi, trễ gần hai tháng. Anh Khoa bị cấp trên khiển trách. Anh không than với tôi câu nào. Bữa đổ bê tông lấp lại đáy hố, anh mua một bó nhang, tự tay cắm ở góc đông bắc.

Tôi gọi điện ra Hậu Lộc cho ông Hạnh. Tôi kể hết, từ bà Sáu tới cái bể, tới cái câu Thắng nói đêm đó. Đầu dây bên kia im lâu tới mức tôi tưởng mất sóng. Rồi ông nói, giọng nghèn nghẹn.

"Rứa là con tui hắn đi phụ bà cụ. Hắn nỏ chết vì bậy."

Tôi nghe tiếng bà Lụa khóc ở đằng sau. Tuần sau đó, ông Hạnh nhờ người đồng hương ở Tân Phú tìm tới bà Tư Liên, gửi lại hai triệu và một lời xin lỗi. Bà Tư Liên nhận lời xin lỗi, gửi trả tiền. Rằm tháng Bảy năm đó, bà tự tới công trình làm một lễ cầu siêu chung cho cả hai, bà Sáu và Thắng, không lấy của ai đồng nào. Mâm cúng có cơm trắng, gói thuốc Thăng Long, và cái bao tải lon dẹp của Thắng đặt bên cạnh.

Từ sau bữa đào, cái góc hầm khô trắng như mọi chỗ khác. Không còn tiếng gõ dưới sàn, trên vách. Không ai thấy người đứng dưới hố thang máy nữa. Phúc làm với tôi thêm hai năm rồi về quê lấy vợ.

Khối chung cư cất nóc cuối năm 2019, giao nhà giữa năm 2020. Trước khi tháo lán, tôi gỡ cái nón lá xuống, đem xuống Bình Chánh cho chị Hồng. Chị cầm cái nón, lật lên lật xuống, vuốt dải quai sọc xanh trắng. Rồi chị trả lại cho tôi.

"Anh giữ giùm em. Má em đi lượm ngoài nắng cả đời. Mấy anh làm ngoài nắng, cho má đi theo mấy anh."

Bây giờ tôi làm cai ở một công trình khác, bên Thủ Đức. Cái lán đầu tiên dựng lên, tôi đóng một cây đinh vào cột, ngang tầm mắt, treo cái nón lá lên. Thợ mới hỏi nón của ai, tôi nói nón của bà cụ, đừng ai lấy.

Chiều chiều gió thổi, cái nón xoay qua xoay lại. Thỉnh thoảng có buổi sáng tôi mở lán, thấy dải quai đã thắt thành một nút gọn dưới cằm nón, như có người vừa đội rồi tháo ra treo lại. Bên cạnh cột, cái bao tải tôi để sẵn có thêm mấy lon đập dẹp, xếp ngay ngắn thành chồng.