Chương 8: Cái bể nước chung
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Chú Tư ngồi dưới tấm bạt xe nước mía, ly rượu, chai rượu, một dĩa khô mực chưa ai đụng. Mưa nhỏ hạt rơi lộp độp trên tấm bạt. Ngọn đèn đường vàng vọt soi qua tán bàng, chiếu lên hàng rào tôn của công trình bên kia đường.
Chú rót cho tôi một ly. Tôi không uống, nhưng tôi cầm.
"Năm đó tui chạy máy xúc cho công ty kia," chú nói. "Người cầm trịch ngoài công trường là ông Hiển, đốc công. Ổng nói sao tụi tui làm vậy."
Chú kể chậm, có chỗ dừng lâu, có chỗ nói lại hai lần. Tôi ghi nhớ từng chữ.
Bữa cưỡng chế, người ta khiêng bà Sáu ra khỏi phòng, đặt ngồi trên đống bao ve chai ở bờ kênh. Bà không la, chỉ nói đi nói lại là tiền của bà còn trong đó. Chiều đó máy ủi đập nửa dãy phòng phía đầu xóm, nửa dãy cuối để sáng mai làm tiếp, vì trời tối.
Đêm đó bà Sáu lẻn vô. Phòng bà ở cuối dãy, sát cái bể nước chung của xóm. Cái bể xây gạch, rộng chừng hai thước vuông, sâu hơn đầu người, cả xóm xài chung từ hồi chưa có nước máy. Bà cất tiền trong một cái hộp thiếc, nhét trong một cái hốc dưới chân tường, ngay sát thành bể.
"Bức tường đó máy ủi đã húc nứt hồi chiều," chú Tư nói. "Bả cạy cái hốc. Tường sập."
Sáng ra chú Tư là người tới trước. Chú thấy cái nón lá nằm ngửa trên đống gạch vụn, cái quai sọc xanh trắng. Chú bới ra. Bà Sáu nằm dưới đó, nửa người bị gạch đè, một tay còn ôm cái hộp thiếc, đã lạnh từ khuya.
Chú chạy đi kêu ông Hiển. Ông Hiển tới, đứng nhìn một hồi, hút hết một điếu thuốc. Rồi ông nói một câu mà chín năm nay chú Tư không quên được.
"Báo công an là dự án ngưng. Cưỡng chế có người chết, báo chí bu vô, tụi mình đi tù hết. Bả không có hộ khẩu ở đây, con cái gì đâu. Lấp đi."
Ông Hiển đưa cho chú Tư với một thằng phụ máy mỗi đứa một phong bì. Hai đứa khiêng bà Sáu thả xuống cái bể nước chung. Người ta liệng theo cái bao ve chai, cái hộp thiếc. Chú Tư lượm cái nón liệng xuống sau cùng. Rồi chú lên máy xúc, múc gạch vụn với đất đổ đầy cái bể, lu cho phẳng. Trước trưa, chỗ đó chỉ còn là một khoảnh đất mới như mọi khoảnh khác.
"Tui đổ từng gầu," chú Tư nói. "Tui thấy cái nón chìm xuống. Chính tay tui."
Công ty đó bể nợ năm 2011, khu đất bỏ hoang. Ông Hiển chết năm 2015, té xe trên quốc lộ, nghe nói lúc đó say. Thằng phụ máy về quê, mất tin. Còn chú Tư thì không đi đâu được. Chú về đầu hẻm này bán nước mía, ngày nào cũng ngồi nhìn qua khu đất. Bảy tám năm cỏ mọc. Rồi công ty mới tới, đóng cọc, đào hầm, dựng lõi thang máy.
"Cái lõi thang máy," chú Tư chỉ tay qua hàng rào. Ngón tay chú run nhưng chỉ thẳng. "Mấy chú đúc nó ngay trên cái bể đó. Cái góc mấy chú trát hoài không khô là thành bể."
Tôi ngồi im. Các mảnh ghép lại với nhau, từng mảnh một, chầm chậm.
Cái mùi chua dưới hố là mùi bao ve chai mục. Tiếng gõ dưới sàn là tiếng bà Sáu đập lon như mỗi tối, chỉ là giờ dưới đất. Cái nón lá không phải ai làm rớt. Nó từ dưới đó lên.
Còn cái giọng miền Tây trong miệng bà Tư Liên, cái giọng mà ông Cường chửi là lừa đảo, đó không phải bà đồng nói sai giọng Thắng. Người lên buổi đó là bà Sáu. Bà nói thật, không ai tin.
Và thằng Thắng. Nó thấy một bà già đội nón lượm ve chai trong công trình. Nó gom lon cho bà, như hồi nhỏ nó nhìn bà nội nó đi lượm. Đêm đó bà kêu nó, con ơi, phụ bà một tay. Nó dạ. Nó không đợi vòng xuống thang bộ, nó leo thẳng giàn giáo trong lõi xuống cho nhanh, không kịp móc dây.
Bà Sáu không giết nó. Bà chỉ kêu người đào bà lên, và trong cái công trình đó chỉ có thằng Thắng chịu nghe.
Sáng hôm sau tôi dẫn chú Tư với chị Hồng vô văn phòng anh Khoa. Chú Tư kể lại từ đầu, không bỏ chữ nào. Chị Hồng ngồi kế bên, nắm cây kẹp tóc.
Anh Khoa nghe xong, im rất lâu. Rồi anh nói, giọng không gắt, chỉ mệt.
"Anh Bảy có biết đục lõi thang máy, đào xuống dưới móng, là ngưng thi công bao nhiêu ngày không? Phải làm lại phương án kết cấu, phải xin phép. Công ty sẽ không cho."
"Năm 2009 cũng có người tính bằng ngày," tôi nói.
Anh Khoa nhìn tôi. Rồi anh nhìn chú Tư. Rồi anh nhìn ra cửa container, về phía cái lán, nơi cái nón lá treo trên cây đinh, xoay chầm chậm trong gió.
Anh gọi điện lên công ty. Tôi nghe anh cãi trong điện thoại gần nửa tiếng. Công ty không chịu. Chiều đó tôi chở chị Hồng với chú Tư lên công an phường. Chú Tư ký vào biên bản lời khai, tay run tới mức chữ ký méo xệch.
Ba ngày sau, công an quận có quyết định khám nghiệm, buộc công trình ngưng phần lõi thang máy để đào.
Đêm trước ngày đào, tôi ngủ trong container như mọi đêm. Lần đầu tiên kể từ tháng Tư, không có tiếng gõ nào. Không dưới sàn, không trên vách. Bờ kênh im, nhưng không phải cái im của mấy đêm trước. Tôi nằm thao thức tới sáng, nghe cái im đó.
Gần sáng, tôi nghe ngoài cửa có tiếng lon rơi. Một cái thôi. Leng keng trên bậc thềm, rồi nằm yên.