☾ Truyện Ma Có Thật
← Hộp sữa ba giờ sáng

Chương 4: Kiệt năm mươi hai

Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem

Chiều hôm sau, tôi băng qua đường Điện Biên Phủ, đi vô kiệt năm mươi hai.

Kiệt hẹp, hai chiếc xe máy tránh nhau phải nghiêng gương. Hai bên là nhà ống ba bốn tầng xen với mấy dãy trọ thấp lợp tôn. Dây điện chằng chịt trên đầu, có chỗ treo cả lồng chim. Mùi cơm chiều, mùi nước mắm kho, mùi nước cống bốc lên từ mấy cái nắp gang dưới chân.

Tôi hỏi một ông ngồi uống trà trước cửa có dãy trọ nào cuối kiệt không. Ông chỉ vô trong, nói dãy trọ của bà Sáu, có cây khế trước sân.

Bà Sáu chừng sáu mươi, người nhỏ, tóc bạc búi sau gáy, đang ngồi lặt rau muống trên bậc thềm. Tôi nói tôi làm ở cửa hàng đầu đường, muốn hỏi thăm một người tên Thiện từng ở trọ chỗ bà. Bà ngẩng lên nhìn tôi, tay vẫn lặt rau, rất lâu.

"Con là bà con chi với nó?"

Tôi nói không phải bà con. Tôi chỉ nói tôi làm ca đêm, ba giờ sáng. Bà Sáu đặt rổ rau xuống, phủi tay, đứng dậy.

"Vô nhà đi con."

* * *

Bà rót cho tôi ly nước chè xanh, rồi ngồi xuống cái phản gỗ, kể chậm rãi, như đã kể nhiều lần cho chính mình nghe.

Thiện quê Quế Sơn, Quảng Nam, mồ côi từ nhỏ, ra Đà Nẵng làm phụ hồ từ năm mười tám tuổi. Năm hai mươi lăm thì cưới vợ, cô vợ tên Hoa, người Gia Lai, làm may trong khu công nghiệp. Hai vợ chồng thuê căn phòng cuối dãy, mười hai mét vuông, có cái gác lửng bằng ván ép.

Năm 2014 thì có đứa con gái. Đặt tên khai sinh là gì bà không nhớ, cả dãy chỉ gọi nó là bé Su.

"Mùa hè năm mười lăm, con Hoa sốt xuất huyết. Ba bữa thôi con. Chở vô viện thì trễ rồi."

Từ đó Thiện ở vậy nuôi con. Sáng gửi bé cho bà Sáu, đi làm hồ, chiều về tắm con, đút cơm. Bà nói thằng đó thương con lắm, đi làm về quần áo dính hồ mà chưa rửa tay đã ôm con, bị bà la hoài. Con bé không chịu bú bình sữa bột, chỉ chịu uống sữa tươi hộp giấy có hình con bò, mà phải hộp lạnh. Thiện mua về để trong cái tủ lạnh nhỏ mua lại đồ cũ.

* * *

"Đêm đó mưa lớn quá. Cúp điện cả kiệt."

Bà nói cái tủ lạnh nhỏ tắt, sữa trong tủ hôi hết. Gần ba giờ sáng bé Su thức dậy khóc đòi sữa, khóc tới khàn tiếng. Bà ở phòng đầu dãy nghe rõ. Rồi bà nghe tiếng xe Wave nổ máy, tiếng Thiện dặn con nằm yên, ba đi mua sữa về liền.

"Rồi nó không về."

Bé Su khóc tới sáng. Bà Sáu tưởng Thiện dỗ không được, nên không qua. Tới sáng có người chạy vô báo, bà mới chạy qua phòng cuối. Cửa không khóa. Con bé nằm trên cái chiếu dưới đất, mắt sưng húp, tay còn nắm cái vỏ hộp sữa cũ bóp dẹp, ngủ thiếp đi.

Công an về hỏi. Bên nội không còn ai. Bên ngoại ở tận một xã trong Gia Lai, gọi mấy lần không được, viết thư không thấy hồi âm. Bà Sáu nuôi con bé bốn mươi chín ngày, cúng thất cho Thiện xong thì phường đưa con bé vô một ngôi chùa bên Hòa Khánh có nuôi trẻ mồ côi.

"Bà già rồi, nuôi không nổi con ơi. Chừng năm sau bà vô thăm thì sư cô nói có người nhận nuôi rồi. Ai thì sư cô không nói."

* * *

Bà Sáu dẫn tôi ra phía sau nhà. Dưới gầm cầu thang có một bàn thờ nhỏ bằng gỗ, một bát nhang, hai cây đèn dầu, một tấm ảnh cũ ép nhựa.

Trong ảnh là một người đàn ông gầy, tóc cắt ngắn, cười lộ cái răng khểnh, bế một đứa nhỏ trên tay. Đứa nhỏ quay mặt vô ngực ba nó, chỉ thấy cái chỏm tóc buộc thun. Tôi nhìn khuôn mặt người đàn ông. Không có đất đỏ, không có sạn, không tái xanh. Nhưng là anh ta.

Cạnh bát nhang, có một hộp sữa tươi hình con bò. Màu đã bạc, hình con bò mờ gần hết. Góc dưới hộp có một chỗ móp, lõm vô như vết ngón tay cái bấm.

"Hộp sữa nó mua bữa đó. Ông Tư xe ôm lượm ngoài đường đem vô cho bà. Bà để đó cho nó."

Tôi đứng nhìn hộp sữa. Tôi không dám đưa tay ra sờ.

Bà Sáu thắp ba cây nhang, cắm vô bát, vái mấy vái. Rồi bà nói, không quay lại nhìn tôi, giọng bình thường như kể chuyện giá rau:

"Mà con nè. Từ đầu tháng Chín tới chừ, sáng mô bà ra thắp nhang cũng thấy cái hộp ni ướt. Ướt mà lạnh, như mới lấy trong tủ ra."