Chương 1: Hũ tro về tới hẻm
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Nhà tôi ở cuối một con hẻm thuộc phường Tân Bình, Dĩ An, Bình Dương. Đất này của ông bà nội tôi từ hồi còn là vườn điều. Sau ba tôi chia ra, cất thêm một dãy tám phòng trọ cho công nhân khu công nghiệp thuê. Nhà trên có năm người: bà nội, ba má tôi, em gái tôi là Ngọc, và tôi.
Tôi tên Phát, năm 2021 tôi hai mươi bảy tuổi, làm kỹ thuật mạng cho một công ty viễn thông. Việc của tôi là kéo cáp, cấu hình bộ phát, xử lý sự cố đường truyền cho mấy nhà xưởng. Tôi là cháu đích tôn. Bà nội hay nói câu đó như một món nợ: "Mày là đích tôn, mai mốt bà chết, mày bưng hình bà."
Bà nội tên Trần Thị Lựu, người trong xóm gọi bà Năm Lựu. Năm đó bà tám mươi mốt tuổi, nhỏ thó, cân chưa tới bốn chục ký. Bà ăn trầu, sáng nào cũng ngồi ở bậc thềm têm trầu, cái cơi trầu bằng thau sứt một góc. Bà mê cải lương mà chỉ thuộc trọn một bài ru, Ví dầu cầu ván đóng đinh, ru tôi rồi ru Ngọc.
Tháng Bảy năm đó dịch tràn vô Dĩ An. Dãy trọ nhà tôi có hai phòng dương tính trong một tuần. Hẻm bị chăng dây, đầu hẻm dựng cái chốt bằng hai cây tre và tấm bạt xanh. Ai ở đâu ở yên đó.
Ngày hai mươi hai tháng Bảy bà nội sốt. Hai hôm sau bà thở dốc, môi tím tái. Ba tôi gọi tổ y tế phường mất nửa buổi mới có xe tới. Bà được đưa vô một khu điều trị tập trung ở Thuận An. Cả nhà là người tiếp xúc gần, không ai được đi theo. Má tôi chỉ kịp nhét vô túi bà cái cơi trầu, cái điện thoại và cái khăn rằn.
Tôi nhớ cái lưng bà lúc người ta khiêng lên xe. Bà quay đầu lại, không nói gì, chỉ giơ tay vẫy vẫy. Tay bà nhỏ, đỏ màu trầu ở đầu móng.
Mười ngày sau đó cả nhà sống bằng mấy cuộc gọi. Có hôm gọi được, một cô điều dưỡng áo bảo hộ xanh cầm máy đưa sát mặt bà. Bà đeo mặt nạ thở, nói không ra tiếng, chỉ chớp mắt. Có hôm gọi cả chục cuộc không ai bắt. Ba tôi ngồi ngoài hiên hút thuốc, má tôi tụng kinh trong buồng.
Ngày ba tháng Tám tôi nhận một tin nhắn Zalo từ số lạ. Tôi còn giữ tin đó tới giờ, không xoá:
"Gia đình bệnh nhân Trần Thị Lựu, mã hồ sơ 0374, cho em chia buồn. Bà đã mất chiều nay. Thi hài được chuyển đi hỏa táng theo quy định. Tro cốt sẽ được bàn giao về địa phương. Gia đình giữ máy để phường liên hệ."
Tôi đọc tin đó ba lần mới đưa cho ba. Ba tôi đọc xong thì đứng dậy đi ra sau nhà. Lát sau tôi nghe tiếng ba đập bàn tay vô cây cột, đều đều, không khóc thành tiếng.
Đám tang bà không có đám. Không rạp, không kèn, không ai tới viếng. Má tôi lập cái bàn thờ tạm trong phòng thờ, chỗ trước đó thờ ông nội. Hình bà là tấm chụp năm bảy mươi tuổi, áo bà ba tím, miệng đỏ màu trầu. Tối đó cả nhà ngồi quanh cái bàn thờ không có gì ngoài tấm hình, bát nhang và cái đèn cầy.
Mười một ngày sau, chiều mười bốn tháng Tám, phường gọi. Một nhóm thiện nguyện chở tro cốt về trả cho các gia đình trong phường. Nhà nào có người nhận thì ra đầu hẻm.
Ba tôi đang sốt nhẹ, má tôi phải ở với ba. Tôi mặc bộ áo mưa làm áo bảo hộ, đeo hai lớp khẩu trang, đội nón bảo hiểm có kính chắn. Tôi đi bộ ra chốt. Trời sắp mưa, gió thổi tấm bạt xanh phần phật.
Ở ngoài dây phong tỏa có một chiếc xe bán tải màu trắng. Thùng sau chất mấy chục cái hũ, mỗi cái bọc một tấm khăn vàng, xếp sát nhau, chèn bằng thùng giấy. Hai thanh niên mặc đồ bảo hộ trắng đứng bên xe, cầm một tờ danh sách kẹp trên bìa cứng. Một người lớn tuổi hơn, giọng Huế, gọi tên từng nhà.
"Trần Thị Lựu. Khu phố Tân Phú. Ai nhận?"
Tôi giơ tay. Anh ta lật danh sách, lấy bút bi đánh dấu, rồi trèo lên thùng xe. Anh ta tìm một lúc, đọc mấy con số trên nắp hũ, rồi bưng xuống một cái. Hũ bằng sứ trắng, nắp tròn, quấn khăn vàng. Trên nắp dán một miếng băng keo giấy, có viết bút lông đen: "0347 – Trần Thị Lựu".
Anh ta đưa hũ qua dây cho tôi bằng hai tay. Tôi đỡ bằng hai tay. Anh ta nói nhỏ:
"Em cầm chắc. Cho anh xin lỗi gia đình, tụi anh chỉ chở được tới đây thôi."
Tôi gật đầu, không biết nói gì. Anh ta quay lại xe, gọi tiếp tên một người khác.
Tôi đi bộ về. Con hẻm dài chừng hai trăm thước. Tới nửa hẻm tôi phải dừng lại, đổi tay. Cái hũ nặng hơn tôi nghĩ nhiều. Tôi tưởng bà nhỏ vậy, tro chỉ còn một nắm. Vậy mà tay tôi mỏi, cổ tay rần rần như vừa bưng một thùng sơn.
Ba tôi đứng chờ ở cửa, khẩu trang kéo xuống cằm. Ba đưa tay đỡ cái hũ. Ba nhấc lên, khựng lại một chút, nhìn tôi.
"Bà con có bốn chục ký à."
Ba không hỏi, ba chỉ nói vậy. Rồi ba bưng vô phòng thờ, đặt lên bàn, ngay trước tấm hình bà. Má tôi thắp ba cây nhang. Ngọc quỳ dưới đất, khóc thút thít. Cả nhà lạy.
Rửa tay xong quay lại, tôi đứng ở cửa nhìn cái hũ. Khăn vàng hơi lệch, để lộ miếng băng keo trên nắp. Mấy con số viết vội, nét bút lông nhoè một góc vì tay ai đó ướt.
Tối đó mưa. Cả nhà ngủ sớm vì mệt. Tôi nằm ở bộ ván ngoài phòng khách, sát vách phòng thờ, vì thấy không yên nếu để bà một mình đêm đầu.
Gần sáng tôi tỉnh dậy vì một mùi. Không phải mùi nhang, không phải mùi đèn cầy. Một mùi khét, ngai ngái, hăng hắc như rơm ướt bị đốt, đậm đặc tới mức tôi ho. Tôi ngồi dậy. Mùi đó đi ra từ phòng thờ.