Chương 2: Mùi khét trước bát nhang
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi bật đèn phòng thờ. Bóng đèn huỳnh quang chớp hai cái rồi sáng. Không có gì cháy. Ba cây nhang tối qua đã tàn, chân nhang lạnh. Đèn cầy tắt từ lúc nào, bấc đen, sáp chảy thành một vũng đông lại. Cái hũ vẫn nằm trước tấm hình bà, khăn vàng phủ ngay ngắn.
Vậy mà mùi khét vẫn còn, lơ lửng ngang mặt tôi. Tôi đi một vòng quanh phòng. Mở cửa sổ ra sau, ngoài kia là bức tường gạch của dãy trọ, mưa còn nhỏ giọt từ máng xối. Không ai đốt gì. Tôi đứng sát bàn thờ thì mùi đậm hơn, ngồi xuống thấp thì mùi đậm hơn nữa. Như có người ngồi chồm hổm ngay dưới chân bàn thờ mà thở ra khói.
Rồi tôi nhận ra mùi đó. Hồi tôi mới đi làm, đội kéo cáp có anh Tú người Nam Định, giờ nghỉ trưa anh ôm cái điếu cày bằng ống tre ra gốc cây rít. Tiếng nước trong điếu kêu sòng sọc. Khói thuốc lào bay sang chỗ tôi đúng cái mùi này: hăng, cay, ngai ngái như rơm.
Nhà tôi không ai hút thuốc lào. Ông nội hút thuốc lá đầu lọc, ba tôi cũng vậy. Người miền Nam như nhà tôi nhìn cái điếu cày còn thấy lạ.
Tôi lấy điện thoại ra định chụp cái bàn thờ, không biết để làm gì. Màn hình khoá hiện giờ. Tôi nhìn giờ rồi nhìn ra cửa sổ. Trời còn tối mịt, mà giờ trên điện thoại thì đã sáng rõ. Lệch đúng một tiếng.
Tôi làm nghề đụng tới máy móc mỗi ngày. Điện thoại để chế độ tự lấy giờ theo mạng, chưa bao giờ sai. Tôi mở phần cài đặt. Múi giờ đang để là giờ chuẩn Đài Bắc. Tôi chưa từng chọn cái đó. Tôi chỉnh lại về giờ Việt Nam, bấm khoá màn hình, mở lại. Đúng giờ.
Tôi nghĩ do bản cập nhật lỗi. Tôi đi pha cà phê, ngồi nhìn trời sáng dần qua khe cửa.
Sáng đó má tôi hỏi ai đốt rơm trong nhà. Má cũng ngửi thấy. Ba tôi nói chắc mấy đứa công nhân dãy trọ hút gì đó, gió tạt vô.
Nhưng dãy trọ hồi đó gần như bỏ trống. Công nhân phải ăn ngủ luôn trong xưởng theo kiểu ba tại chỗ, hoặc đã bỏ về quê từ đợt đầu. Chỉ còn hai phòng có người. Phòng số hai là chị Hạnh bán rau dạo, người Sóc Trăng. Phòng số sáu là hai vợ chồng trẻ người Trà Vinh. Không ai hút thuốc lào.
Má tôi không nói gì nữa. Má lau bàn thờ, thay nước, thắp nhang mới. Má bày lên một cái cơi trầu nhỏ có ba miếng trầu têm sẵn, một chén nước trà. Bà nội đi đâu cũng phải có trầu.
Chiều hôm đó phường gửi lại túi đồ tùy thân của bà. Túi ni lông dày, buộc dây rút, có dán tên bà và số điện thoại ba tôi. Bên trong là cái cơi trầu bằng thau sứt góc, cái khăn rằn, cái điện thoại cục gạch, một bộ đồ bà ba màu nâu xếp gọn. Má tôi mở ra rồi ôm cái khăn rằn vô ngực, ngồi bệt xuống nền gạch.
Ba tôi nói: "Đủ hết đồ của bả. Họ làm kỹ đó chớ."
Tôi nhớ câu đó, vì sau này tôi nghĩ lại nó nhiều lần.
Tôi cắm sạc cái điện thoại cục gạch. Màn hình lên, hiện danh bạ chỉ có sáu số: ba, má, tôi, Ngọc, bà Sáu hàng xóm, và chùa. Cuộc gọi cuối cùng là cuộc tôi gọi bà, chiều ba mươi tháng Bảy, dài bốn mươi giây. Tôi không nhớ mình đã nói gì trong bốn mươi giây đó. Tôi đặt cái điện thoại lên bàn thờ, cạnh cơi trầu.
Đêm thứ hai, mùi thuốc lào trở lại. Lần này tôi còn thức, đang ngồi sửa cấu hình cho một nhà xưởng qua máy tính. Phòng khách im, chỉ có tiếng quạt trần. Mùi tới từ từ, không phải ùa vào như gió. Như ai đó trong phòng thờ vừa châm điếu, rít một hơi dài, rồi nhả ra chậm rãi.
Tôi rút tai nghe ra. Tôi nghe được một tiếng rất nhỏ. Sòng sọc. Sòng sọc. Tiếng nước sôi lục bục trong ống tre. Nghỉ một lúc lâu. Rồi lại sòng sọc.
Tôi đứng dậy. Hai chân tôi không muốn đi về phía phòng thờ. Tôi đứng ở giữa phòng khách, tay cầm ly nước, nghe tiếng đó lặp đi lặp lại ba lần nữa. Rồi nó tắt. Mùi khói vẫn còn rất lâu sau.
Tôi không vô. Tôi bật hết đèn phòng khách, ngồi tới sáng. Lúc trời hửng, tôi nhìn điện thoại. Múi giờ lại là Đài Bắc.
Sáng thứ ba, Ngọc ra bếp với đôi mắt thâm. Em tôi học năm cuối đại học, đang làm khoá luận trên mạng, hay thức khuya. Phòng của Ngọc ở sát phía bên kia phòng thờ, chung một bức vách.
Ngọc kéo ghế ngồi gần tôi, hạ giọng để má không nghe.
"Anh hai. Hồi khuya anh có vô phòng thờ hông?"
Tôi nói không. Ngọc gật gật đầu như đã biết trước câu trả lời. Em cầm ly sữa mà không uống.
"Em nghe có người ho trong đó. Ho khan, khục khục, tiếng đàn ông. Ho một hồi rồi khạc nhổ nữa. Em tưởng ba."
Ba tôi ngủ ở buồng trước, cách phòng thờ hai lớp vách và một cái hành lang. Đêm đó ba còn sốt, uống thuốc ngủ sớm.
Ngọc nói thêm, giọng nhỏ hơn: "Ho xong, người đó nói gì đó. Mà em nghe hông ra. Giọng lạ hoắc, hông phải giọng mình."