Chương 10: Gói thuốc trên bàn thờ
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Đổi hai cái hũ cho nhau là chuyện tưởng đơn giản mà mất gần hai tuần. Tháng Chín năm đó Bình Dương vẫn giãn cách gắt. Xe ra vào tỉnh phải có giấy, người ngoài tỉnh không được vô. Chị Na không đi được. Nhà tôi cũng không ra được.
Người giải quyết là chồng chị Na, anh Cường. Anh chạy xe tải, đăng ký được vào luồng xanh chở hàng. Huyện anh có một chuyến xe gom gạo, khoai, bí đỏ của người quê gửi vô cho đồng hương đang kẹt trong Bình Dương. Anh xin lái chuyến đó. Anh Quân lo giấy cho tôi ra tới chốt kiểm dịch ở đầu đường vào Dĩ An.
Đêm trước hôm đổi, ba tôi đi một vòng khắp xóm hỏi mua thuốc lào. Không ai bán. Cuối cùng tôi gọi anh Tú, người Nam Định trong đội kéo cáp, đang kẹt trong phòng trọ ở Tân Đông Hiệp. Anh treo một gói thuốc lào vào cái túi ni lông, móc lên cổng trọ cho tôi chạy ngang lấy. Gói thuốc bọc giấy báo, buộc dây chun, sợi thuốc nâu sẫm, mùi hăng xộc lên mũi khi tôi mở ra.
Ba tôi đặt gói thuốc lên bàn thờ, cạnh cái hũ. Ba thắp nhang, khấn bằng giọng nói chuyện bình thường, như nói với một người hàng xóm.
"Anh Thự. Mai anh về với con Na rồi. Có gói thuốc, anh hút đỡ. Ở nhà tui ba tuần, có gì sơ sót anh bỏ qua."
Đêm đó trong phòng thờ có tiếng điếu sòng sọc rất lâu. Lần đầu tiên tôi nghe tiếng đó mà không sợ.
Sáng mười một tháng Chín, tôi ôm cái hũ ra chốt. Ba tôi đi theo tới đầu hẻm thì phải dừng. Ba đứng sau dây phong tỏa, chắp tay vái theo cái hũ ba cái. Chốt kiểm dịch là một dãy rào sắt, hai cái lều bạt, mấy anh dân quân mặc áo xanh. Chiếc xe tải của anh Cường đậu bên kia rào, thùng xe phủ bạt, chất đầy bao gạo.
Anh Cường người cao, đen, mặc đồ bảo hộ trắng đã lấm bụi đường. Anh ôm một cái hũ quấn khăn vàng sát ngực, như ôm đứa nhỏ. Một anh dân quân đứng giữa, nhận hũ bên này đưa qua bên kia. Không ai được bước qua rào.
Anh Cường đưa trước. Anh dân quân bưng qua đặt vô tay tôi. Cái hũ nhẹ tới mức tôi giật mình. Tôi nhìn miếng băng keo trên nắp: 0374. Tôi ôm nó vô ngực, cúi đầu.
"Bà về với con rồi bà."
Rồi tôi đưa hũ của ông Thự qua. Anh Cường nhận bằng hai tay, cúi đầu sát nắp hũ, nói gì đó bằng giọng quê mà tôi nghe không rõ. Rồi anh ngẩng lên, nói lớn qua hàng rào:
"Na nó bảo cảm ơn nhà mình. Bà ở nhà em mấy tuần, thằng cu ngủ ngoan lắm."
Tôi ôm bà đi bộ về. Con hẻm hai trăm thước, lần này tôi không phải dừng lại đổi tay.
Chiều đó cô Bảy gọi cho má tôi, lần đầu tiên sau hai tuần. Cô nói tối qua cô nằm mơ thấy một bà già nhỏ xíu mặc bà ba tím, miệng đỏ trầu, ngồi ở đầu giường cô. Bà nói bà về rồi, bà không giận ai. Bà nói ông nằm giường bên cạnh tốt lắm, đêm nào bà khát nước, ông cà nhắc qua đưa ly nước cho bà, rồi về giường ngồi rít điếu không có thuốc.
Má tôi nghe xong thì ngồi bệt xuống nền nhà, khóc như chưa từng được khóc.
Đêm đầu tiên bà nội về, phòng thờ không có mùi thuốc lào. Có mùi trầu, nhè nhẹ, ấm, như mùi cái áo bà ba bà mặc. Ngọc nói em nghe ai đó ngân nga bên kia vách, nhỏ nhỏ, đúng cái giọng khàn lên cao chỗ chữ đinh. Em nằm nghe rồi ngủ lúc nào không hay.
Sáng ra tôi nhìn điện thoại. Màn hình khoá chỉ còn một cái đồng hồ. Giờ Việt Nam. Cái đồng hồ Đài Bắc đã biến mất, tôi không xoá nó.
Ba ngày sau chị Na nhắn. Chị gửi một tấm ảnh bàn thờ sơn đỏ, cái hũ đã nằm đúng chỗ, bên cạnh ảnh bố chị, và gói thuốc lào ba tôi gửi theo. Chị viết, đêm qua nhà chị thơm mùi thuốc lào, thằng cu nằm cười một mình tới sáng. Bố không hỏi giờ nữa.
Cuối tháng Chín, Bình Dương mở lại. Ba tôi thuê thợ đục bỏ lớp vữa sau bàn thờ, tô lại bức tường nứt. Cát sàng kỹ, vữa trộn đặc. Ba đứng coi từ đầu tới cuối, không nói gì.
Tháng Mười Một, chị Na và anh Cường bồng con vô Nam, lên Tân Đông Hiệp dọn đồ của bố chị ở phòng trọ. Đồ đạc chỉ có một cái va li cũ, một cái điếu cày ống tre, mấy bộ quần áo công nhân, một cái điện thoại đời cũ vẫn để giờ Đài Bắc. Chủ trọ giữ giùm suốt ba tháng.
Hai vợ chồng ghé nhà tôi ăn một bữa cơm. Chị Na thắp nhang cho bà nội tôi, gọi bà là bà nội. Chị bồng thằng cu tới trước tấm hình bà ba tím. Thằng bé nhìn tấm hình, toe toét cười, quơ tay. Má tôi ôm nó vô lòng, hát nho nhỏ bài ru của bà. Nó nằm yên nghe, như đã quen từ trước.
Giờ đã mấy năm. Trên bàn thờ nhà tôi, cạnh cơi trầu của bà, vẫn có một gói thuốc lào bọc giấy báo, buộc dây chun. Ba tôi thay gói mới mỗi dịp Tết. Ba nói ông Thự ở nhà mình ba tuần, coi như người nhà, có lúc ổng đi ngang thì ổng ghé.
Có những chiều mưa, khi cả nhà ngồi ăn cơm, phòng thờ thoảng ra một chút mùi hăng hắc. Không ai đứng dậy. Ba tôi chỉ lấy thêm một cái chén, xới một ít cơm, đặt lên bàn thờ, cạnh gói thuốc.