Chương 9: Hai con số đảo chỗ
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi dựng cái máy tính bảng lên lại. Chị Na vẫn ngồi ở bậc cửa, mặt hoảng hốt, hỏi nhà tôi có sao không. Má tôi không trả lời chị. Má quay sang Ngọc, nắm cổ tay em.
"Bài đó bà ru con. Con nhớ hông? Hồi con ba tuổi bị sốt, bà ôm con ngồi võng ru bài đó tới sáng."
Ngọc gật đầu, nước mắt chảy ròng ròng. Bà nội tôi không biết nhiều bài ru. Bà chỉ có mỗi bài đó, hát đi hát lại cho tôi, cho Ngọc, cho mấy đứa con nít trong dãy trọ. Giọng bà khàn khàn, lên cao chỗ chữ đinh, xuống thấp chỗ chữ khó.
Ba tôi hỏi chị Na, sáng ra bàn thờ nhà chị có gì lạ không. Chị Na đứng dậy, bế con đi lại phía tủ thờ sơn đỏ. Chị chỉ vô một góc mặt tủ, sát chân bát hương.
"Sáng nào cũng có cái này. Mẹ chồng em lau đi, sáng hôm sau lại có. Mẹ bảo chuột tha từ đâu về."
Trên mặt gỗ là một bã trầu nhỏ, đỏ thẫm, khô quắt, còn in vết răng.
Tôi đứng dậy khỏi bàn ăn. Tôi biết mình phải làm gì. Tôi mở Zalo trên điện thoại, kéo tìm lại tin nhắn báo tử ngày ba tháng Tám. Lần này tôi đọc chậm từng chữ, ngón tay dò theo dòng chữ.
Gia đình bệnh nhân Trần Thị Lựu, mã hồ sơ 0374.
Tôi đi vô phòng thờ, kéo tấm khăn vàng lên. Trên nắp hũ nhà tôi: 0347.
Tôi quay lại, nói với chị Na qua màn hình: "Chị ơi, chị mở khăn trên nắp hũ nhà chị ra, đọc giùm em mấy con số."
Chị Na giao thằng bé cho ai đó ngoài khung hình. Chị chắp tay vái ba vái, rồi kéo nhẹ góc khăn vàng. Chị cúi sát xuống, đọc to, giọng run.
"Không ba bảy bốn. Gạch ngang. Lê Văn Thự."
Không ai trong nhà tôi nói gì. Chỉ có tiếng thằng bé ọ ẹ ở đâu đó ngoài khung hình.
Chiều hôm đó tôi tìm lại được người đàn ông giọng Huế đã trao hũ cho tôi ở đầu hẻm. Anh tên Quân, trưởng một nhóm thiện nguyện. Tôi kể hết, gửi cho anh ảnh hai cái nắp hũ, ảnh tin nhắn báo tử. Anh im lặng gần nửa tiếng, rồi gọi lại.
Anh nói, anh mở sổ giao nhận ra xem. Ngày ba tháng Tám, khu điều trị đó chuyển đi mười một người. Bà Trần Thị Lựu và ông Lê Văn Thự nằm liền nhau trong danh sách, hai mã hồ sơ chỉ khác nhau một con số.
Ở đài hỏa táng, người ta làm suốt ngày đêm. Nắp hũ ghi mã bằng bút lông. Còn tờ danh sách bàn giao, ghi mã nào là tên ai, thì có người ngồi chép tay lúc ba bốn giờ sáng. Người chép chỉ cần đảo hai con số cuối. Mã của bà thành 0347, mã của ông thành 0374. Nhóm anh dò mã trên nắp với tờ danh sách đó mà ghi tên lên băng keo.
"Tụi anh không mở hũ ra được. Không ai làm vậy. Có ngày tụi anh chở hơn ba trăm hũ." Anh dừng một lúc lâu. "Cho anh xin lỗi gia đình em. Anh không biết nói gì khác."
Tôi nghe tiếng anh khóc trong điện thoại. Một người đàn ông bốn mươi tuổi khóc như con nít. Tôi nói với anh không phải lỗi anh. Tôi nói vậy và tôi tin như vậy. Không ai có lỗi. Chỉ là người chết quá nhiều, trong một mùa quá dài.
Tối đó ba tôi làm một việc mà ba nói cả đời ba không nghĩ mình sẽ làm.
Ba thắp ba cây nhang, quỳ trước bàn thờ, khấn rất lâu. Ba xin phép ông Thự, xin phép bà nội, xin phép ông bà tổ tiên. Rồi ba bưng cái hũ xuống, đặt trên tấm khăn trắng trải dưới nền. Ba đeo găng tay, mở nắp.
Bên trong là một túi ni lông dày, buộc dây thun. Qua lớp ni lông đục, tro xám lẫn những mảnh xương trắng vụn to nhỏ không đều. Ba tôi không mở túi. Ba chỉ xoay nhẹ cái túi trong lòng hũ, nghiêng ra ánh đèn.
Dưới đáy túi, nằm lẫn trong tro, là bốn con vít nhỏ màu đen xám, dài chừng một đốt ngón tay. Và một thanh kim loại dẹt, cong vênh, có mấy lỗ tròn.
Ba tôi đậy nắp lại. Ba ngồi bệt xuống nền, hai tay ôm cái hũ vào lòng, cúi đầu. Ba không khóc ra tiếng. Ba chỉ nói, như nói với cái hũ:
"Anh nặng vậy mà tui bưng anh lên bàn thờ má tui ba tuần. Tui đâu có biết."
Bà nội tôi bốn chục ký. Tôi nhớ lại cái cổ tay rần rần khi bưng cái hũ đi giữa hẻm. Tôi nhớ lại câu ba nói ở cửa. Chị Na thì nói, cái hũ nhà chị nhẹ hẫng, chị cứ nghĩ bố gầy đi nhiều quá trong mấy ngày nằm viện.
Ba tuần qua, nhà tôi thờ một người lạ, cúng cơm, đốt tiền vàng, gọi hồn, cãi nhau, khóc lóc. Ba tuần qua, bà nội tôi nằm trên một cái bàn thờ sơn đỏ ở một ngôi làng ngoài Thanh Hóa, giữa những người chưa ai từng gặp bà. Không ai cúng trầu cho bà. Bà phải tự nhai trầu của mình, rồi nhổ bã trên mép tủ, cho người ta biết bà ở đó.
Tôi nhắn cho chị Na. Chị trả lời gần như ngay.
"Em biết rồi anh. Em vừa thắp nhang cho bà, em gọi bà là bà nội. Mẹ chồng em đi chợ hỏi mua được ba lá trầu, một quả cau."
Đêm đó tôi lại nằm trong phòng thờ. Lần này không phải để hỏi gì. Gần sáng mùi thuốc lào lại tới, nhè nhẹ. Tôi nghe tiếng điếu, một hơi dài. Rồi một giọng nói rất gần, trầm và mệt.
"Bao giờ mi đưa tao về?"