☾ Truyện Ma Có Thật
← Cuộn băng trên bậu cửa sổ

Chương 1: Con dốc cao su

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tháng Tám năm 2003, tôi cầm quyết định của Trung tâm Y tế huyện, đón xe đò từ Đồng Xoài lên Bình Long, rồi ngồi sau xe ôm chạy thêm mười hai cây số đường đất đỏ. Năm đó tôi hai mươi bốn tuổi, ra trường trung cấp y được hai năm, trực trạm xá xã được một năm thì bị điều về khu điều trị phong Bàu Sến. Người ta nói với tôi đó là chỗ "nhẹ việc, ít người". Họ nói đúng cả hai điều.

Khu nằm cuối một con dốc thoai thoải, hai bên toàn cao su. Mùa mưa, lá cao su ướt sẫm, thân cây sọc vết cạo, dưới gốc treo chén hứng mủ bằng sành. Mùi mủ chua chua bám vào áo từ lúc xe ôm còn cách cổng một đoạn. Cổng là hai trụ gạch vôi bong lở, tấm bảng tôn chữ đỏ đã phai gần hết.

Người ra đón tôi là cô Ba Thu, y tá, ngoài năm mươi, tóc búi gọn. Cô làm ở đây từ năm tám mươi tám, mỗi chiều chạy chiếc Cub về chợ Bình Long ngủ với con gái, sáng sớm lại lên.

"Cậu là Khang hả? Vô đây, mưa tới nữa bây giờ."

Cô dẫn tôi đi một vòng. Khu có ba dãy nhà mái tôn tường vôi, xếp hình chữ U quanh một sân đất trồng mấy cây mít và một giàn bông giấy. Dãy A là chỗ các cụ ở, mười bốn người, già nhất tám mươi mốt, trẻ nhất sáu mươi hai. Dãy B có bếp ăn, kho và phòng thuốc. Dãy C nằm khuất phía sau, sát mép rừng cao su, cửa đóng, cỏ lên ngang gối.

"Dãy C bỏ từ năm chín tám. Hồi đó trên dồn người đi trại khác, ai có nhà thì về, còn lại bấy nhiêu đây. Cậu đừng ra đó, mục hết rồi, rắn nhiều."

Các cụ ngồi ngoài hiên dãy A nhìn tôi. Người đan rổ, người lặt rau, một ông ôm cây đàn kìm cũ, dây đàn buộc bằng dây điện. Bệnh của các cụ đã khỏi từ lâu, thuốc men giờ chủ yếu là vitamin, thuốc huyết áp, băng gạc thay cho mấy vết thương ở chân lâu lành. Cái còn lại là tuổi già, và chuyện không ai trong làng muốn đón các cụ về.

Ông ôm đàn tên Bảy, các cụ gọi là Bảy Đờn. Ông nheo mắt nhìn tôi.

"Bác sĩ mới hả con? Nhỏ quá. Ở đây buồn lắm nghen, chiều xuống là nghe dế với mấy ông già ho thôi."

Tôi cười, nói tôi không phải bác sĩ, chỉ là y sĩ. Ông xua tay.

"Mặc áo trắng là bác sĩ hết. Hồi xưa có cái áo trắng nào chịu lên đây đâu."

Ngồi tách ra cuối hiên là một bà cụ nhỏ thó, tóc bạc trắng chải ngược, mặc áo bà ba nâu. Bà không nói gì, chỉ gật đầu chào tôi rồi cúi xuống cái cà mèn nhôm đặt trên đùi. Cô Ba Thu bảo đó là bà Hai Lành, ở đây lâu nhất, từ năm năm mươi chín.

Phòng trực của tôi là gian cuối dãy B, kê một giường sắt, một bàn gỗ, một cái tủ đứng. Thông qua một cánh cửa nhỏ là phòng thuốc. Phòng thuốc có một cửa sổ lắp kính mờ, loại kính hoa văn sần như nước đá, nhìn thẳng ra hàng cao su phía sau. Ngoài cửa sổ có cái bậu xi măng rộng chừng hai gang tay.

"Hồi trước cửa sổ đó là chỗ phát thuốc," cô Ba Thu nói. "Người bệnh đứng ngoài, y tá đứng trong, đưa qua bậu. Giờ thì các cụ vô tận nơi lấy, khỏi đứng ngoài mưa."

Khu có máy phát điện chạy từ sáu giờ tối tới mười giờ. Sau đó chỉ còn đèn bình ắc quy và mấy cây đèn dầu.

Đêm đầu tiên tôi không ngủ được. Máy phát tắt, tiếng nổ dứt ngang, cả khu chìm vào một thứ yên lặng dày đặc. Rồi tiếng dế, tiếng ếch dưới mương, tiếng mưa lắc rắc trên mái tôn. Thỉnh thoảng một ông cụ bên dãy A ho khan, tiếng ho vang qua sân như ai gọi.

Cao su ban đêm không xào xạc như tre. Lá nó dày, va vào nhau nghe lộp độp, giống có người bước trên lá khô.

Khoảng nửa đêm, tôi dậy pha thuốc cho ông Tám Cò bị sốt. Phòng thuốc chỉ có ánh đèn pin của tôi rọi vào mấy kệ gỗ. Tôi đang đếm viên thuốc thì nhận ra tiếng dế đã im.

Không phải im dần. Tắt hẳn, một lượt, như ai tắt máy.

Tôi đứng yên, tay còn cầm vỉ thuốc. Tiếng mưa trên mái vẫn đều. Rồi trên tấm kính mờ của cửa sổ phòng thuốc, một cái bóng hiện ra. Ánh trăng nhạt sau mây đủ để tôi thấy nó là một người, thấp, đứng sát kính.

Một bàn tay áp lên mặt kính. Lòng bàn tay úp phẳng, năm ngón xòe ra. Qua lớp kính hoa văn nó chỉ là một vệt tối, nhưng tôi biết đó là bàn tay, vì nó áp lâu, rồi trượt xuống một chút, như người mỏi.

Tôi nghe tiếng thì thào qua khe cửa sổ, nhỏ như hơi thở.

"Cậu ơi... cho xin cuộn băng."

Tôi không trả lời được. Cổ họng khô, tay tôi bấm tắt đèn pin trước khi kịp nghĩ. Trong bóng tối, cái bóng trên kính vẫn đứng đó. Tôi đếm được mấy nhịp tim, rồi hỏi, giọng tôi khàn tới mức không nhận ra.

"Ai đó? Cụ nào đó?"

Không ai đáp. Cái bóng lùi ra khỏi tấm kính, chậm, như mờ đi chứ không phải bước đi. Tiếng dế chưa trở lại.

Tôi đứng thêm một lúc lâu, rồi bước tới mở chốt cửa sổ. Cánh cửa kẹt, tôi phải đẩy mạnh. Ngoài kia chỉ có hàng cao su ướt, mấy chén hứng mủ lấp lánh nước mưa, và con đường mòn nhỏ chạy về phía dãy C.

Trên bậu cửa không có gì. Không dấu chân, không dấu tay. Nhưng gió đưa vào phòng hai thứ mùi tôi nhớ tới giờ: mùi dầu dừa, thứ dầu đàn bà quê tôi hay xức tóc, và mùi khói bếp củi cao su vừa tắt.

Lúc tôi đóng cửa sổ lại, tiếng dế ngoài mương mới cất lên, từng con một.