☾ Truyện Ma Có Thật
← Cuộn băng trên bậu cửa sổ

Chương 2: Hai tờ bạc cũ

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Sáng hôm sau, cô Ba Thu vừa dựng xe ở gốc mít là tôi kể ngay. Cô nghe xong thì cười, vừa cởi áo mưa vừa lắc đầu.

"Ông Tám sốt mê, ổng đi lung tung đó. Hồi năm ngoái ổng đi ra tới ngoài cổng, la làng kêu xe đò về Chơn Thành."

Tôi nói ông Tám Cò nằm trên giường, tôi vừa đắp khăn cho ông trước khi vào phòng thuốc. Cô Ba Thu ngừng tay, nhìn tôi một chút, rồi lại cười, nhưng lần này cười ngắn hơn.

"Vậy thì bà Năm. Bả hay thức khuya, đi coi chuồng gà."

Tôi đi hỏi bà Năm Huệ. Bà đang ngồi lặt rau muống trước cửa phòng, nghe tôi hỏi thì trợn mắt.

"Mưa dầm dề vậy ai mà ra đó chi cho khổ, cậu. Tui ngủ một mạch tới gà gáy."

Tôi hỏi thêm vài người. Không ai đi ra sau dãy B đêm qua. Ông Bảy Đờn đang lên dây đàn, nghe tới chữ cuộn băng thì ngẩng lên, nhìn tôi lâu hơn những người khác, nhưng không nói gì. Bà Hai Lành ngồi cuối hiên, vẫn cái cà mèn trên đùi, quay mặt về phía rừng.

Ban ngày khu điều trị bình thường tới mức tôi gần như quên chuyện đêm trước. Tôi thay băng cho ông Tám, đo huyết áp cho cả dãy A, ghi sổ, phát thuốc. Bàn chân các cụ phần nhiều mất cảm giác, có vết đứt cũng không hay, nên băng gạc là thứ khu dùng nhiều nhất. Cô Ba Thu dạy tôi cách rửa, cách quấn sao cho các cụ đi dép không bị cộm.

"Mấy ổng mấy bả không thấy đau, mình phải thấy giùm," cô nói. "Đừng có ngại đụng. Ngại là mấy ổng biết liền."

Bà Năm vừa được quấn băng xong thì vỗ vai tôi, nói thằng nhỏ này tay nhẹ hơn con Thu. Cô Ba Thu giả bộ giận, cả hiên cười. Tôi nhớ buổi trưa đó, ăn cơm với các cụ dưới giàn bông giấy, tôi nghĩ mình sẽ ở đây được.

Chiều cô Ba Thu về. Máy phát nổ đến mười giờ thì tắt. Tôi ngồi trong phòng trực, cửa thông qua phòng thuốc để mở.

Tôi không định thử. Tôi nói vậy để mình yên tâm. Nhưng trước khi tắt đèn, tôi lấy một cuộn băng gạc trong hộp, loại cuộn mười phân còn nguyên giấy bọc, mở cửa sổ phòng thuốc, đặt lên bậu xi măng, rồi đóng cửa lại, gài chốt.

Đêm đó trời không mưa. Trăng hạ tuần lên muộn, mép rừng cao su đen đặc. Tôi nằm nghiêng nhìn qua cửa thông, thấy tấm kính mờ như một tấm vải xám treo giữa bóng tối.

Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Tôi tỉnh dậy vì lạnh. Không phải cái lạnh của sương. Cái lạnh bò lên từ hai bàn chân, như ai mở cửa tủ đá cạnh giường. Tiếng dế đã tắt. Ngoài sân con chó Vện của khu, đêm nào cũng sủa mấy con chồn, giờ không ho he.

Tôi không dám quay đầu về phía phòng thuốc. Tôi nằm yên, nghe.

Không có tiếng chân. Chỉ có một tiếng sột soạt rất khẽ, như ai cầm tờ giấy lên. Rồi tiếng thì thào, lần này rõ hơn đêm trước.

"Cám ơn cậu... cho ổng..."

Mấy chữ sau tôi không nghe được. Mùi dầu dừa tràn vào phòng trực, ngọt và hơi khét. Tôi nằm cứng như vậy tới khi dế kêu lại, rồi tới khi trời xám ngoài khe cửa.

Sáng ra tôi mở cửa sổ. Cuộn băng gạc đã mất. Ở chỗ tôi đặt nó, có hai tờ giấy bạc gấp nhỏ.

Hai tờ được gấp thành hình tam giác, nhỏ bằng đốt ngón tay cái, góc gấp miết thẳng như gấp bằng móng tay. Tôi mở ra. Một tờ năm hào màu xanh lá nhạt, một tờ một đồng màu nâu đỏ. Giấy mềm nhũn, ẩm, nhưng không rách. Góc tờ một đồng in năm 1976.

Tôi chưa từng cầm tờ bạc nào như vậy. Năm tôi sáu tuổi, nhà nước đổi tiền, mấy tờ tiền cũ trong nhà má tôi đem đi đổi hết. Tôi chỉ nhớ chúng mờ mờ, qua mấy tờ bạc lẻ anh tôi kẹp trong tập học trò.

Cô Ba Thu lên tới, tôi đưa cho cô coi. Cô cầm hai tờ tiền, lật qua lật lại, không cười nữa.

"Tiền này đâu xài được từ năm tám lăm rồi. Đổi tiền rồi. Cậu lấy ở đâu?"

Tôi kể. Cô nghe xong thì đặt hai tờ tiền xuống bàn, cẩn thận như đặt món đồ người khác gửi. Cô hỏi tôi có chắc đã gài chốt cửa sổ không. Tôi nói chắc. Mà dù tôi có quên, thì ai muốn lấy cuộn băng cũng chỉ việc cầm đi, đâu cần để tiền lại.

Lúc đó ông Bảy Đờn đi ngang qua cửa phòng thuốc, tay cầm ly cà phê. Ông nhìn thấy hai tờ tiền tam giác trên bàn và đứng sững lại. Ly cà phê trong tay ông nghiêng, nước đen rớt xuống nền xi măng mấy giọt.

"Ông Sáu," ông nói, giọng nhỏ, không phải nói với ai. "Ông Sáu trả tiền đó."

Tôi hỏi ông Sáu nào. Khu này không có ai tên Sáu. Tôi đã thuộc tên mười bốn cụ từ hôm qua.

Ông Bảy Đờn đặt ly cà phê lên bậu cửa phòng, chậm rãi lau tay vào quần.

"Hồi trước có. Sáu Khuê. Ở phòng cuối dãy C."

"Giờ ổng đi đâu rồi?"

Ông Bảy nhìn ra phía sau dãy B, về hướng mấy mái tôn dãy C lấp ló sau đám cỏ. Một con chim chìa vôi đậu trên nóc, kêu mấy tiếng rồi bay.

"Ổng chết từ năm tám mươi rồi, cậu."