☾ Truyện Ma Có Thật
← Cuộn băng trên bậu cửa sổ

Chương 12: Cuộn băng bên bậu cửa

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Đêm đó tôi ngủ lại trong chòi. Ông Sáu nhường tôi tấm chiếu, ông ngồi bên bếp lửa, lâu lâu bỏ thêm một thanh củi. Tôi thức giấc mấy lần, lần nào cũng thấy ông ngồi đó, mắt nhìn ra tấm phên.

Gần sáng tôi nói với ông. Bà Hai đã đi bệnh viện, không ai đem cơm nữa. Chân ông phải thay băng mỗi ngày, ở dưới suối thì không lành. Rồi tôi nói câu tôi đã nghĩ suốt đêm.

"Bả đi xin thuốc cho ông mười mấy năm rồi, ông Sáu. Ông để bả nghỉ."

Ông không trả lời. Ông nhìn ngọn lửa cho tới khi nó chỉ còn than. Rồi ông chống tay đứng dậy, gỡ mấy con trâu gỗ, con gà gỗ trên vách, gói vào cái khăn rằn.

Chúng tôi về tới khu lúc mặt trời lên khỏi đọt cao su. Ông đi chậm, một tay vịn vai tôi. Con Vện chạy ra tới bãi cỏ, đánh hơi ông, rồi vẫy đuôi đi theo.

Ông Bảy Đờn đang ngồi lên dây đàn ngoài hiên. Ông nhìn thấy chúng tôi, đứng bật dậy, cây đàn kìm tuột khỏi tay rơi xuống nền xi măng, dây đứt kêu một tiếng chát. Ông đứng đó, miệng há ra, rồi bước xuống sân, bước nhanh dần, cuối cùng ôm chầm lấy người bạn cùng vào trại năm sáu mươi hai.

"Anh Sáu. Trời ơi anh Sáu."

Ông Tám Cò làm dấu thánh giá ba lần. Bà Năm Huệ ngồi bệt xuống bậc thềm khóc. Cô Ba Thu vừa dựng xe ở gốc mít, đứng nhìn, hai tay bụm miệng.

Chú Thạch lên ngay chiều hôm đó. Chú khám chân ông Sáu, ghi hồ sơ, rồi ngồi hút thuốc với tôi ngoài hiên rất lâu.

"Người chết rồi thì giấy tờ dễ," chú nói. "Người sống lại mới khó."

Chú nói đúng. Tôi đi xuống xã An Điền bốn lần. Anh cán bộ tư pháp trẻ gãi đầu, nói chưa từng làm thủ tục hủy giấy báo tử cho người còn sống hai mươi ba năm. Phải có giấy của khu điều trị, có xác nhận của huyện, có người làm chứng. Ông Bảy Đờn, ông Tám Cò, bà Năm Huệ, mỗi người lăn tay vào một tờ giấy xác nhận, rằng người đàn ông này là Trần Văn Khuê, vào trại tháng Ba năm sáu mươi hai, cùng đợt, cùng dãy. Mất năm tháng giấy tờ mới xong.

Trong năm tháng đó, tôi nhờ bà Bền nhắn cho con cái ông.

Hòa lên trước. Một buổi sáng tháng Mười, một chiếc xe tải chở mủ dừng ở cổng khu. Một người đàn ông ngoài ba mươi, da đen sạm, tay cầm cái nón vải, bước xuống. Thằng Bin ngồi trong cabin, ôm chiếc xe ben gỗ tôi đã gửi trả bà Bền.

Hòa đứng ở cổng rất lâu. Lâu như ông Bền năm tám mươi. Rồi anh bước vào, đi qua sân, tới trước cái ghế tre ông Sáu đang ngồi dưới giàn bông giấy. Anh quỳ xuống.

Tôi không nghe họ nói gì. Tôi đi vào phòng thuốc, khép cửa lại.

Hồng lên tuần sau đó, mang theo một giỏ trái cây và hai đứa con gái. Từ đó, cứ cuối tháng, chiếc xe tải chở mủ lại dừng ở cổng khu. Thằng Bin chạy khắp sân, ông Sáu ngồi đẽo cho nó con trâu, con gà, con chó Vện bằng gỗ, dưới bụng con nào cũng có chữ K.

Bà Hai Lành từ bệnh viện về sau ba tuần, gầy rộc. Bà đứng ở cổng, chống gậy, nhìn ông Sáu ngồi với thằng Bin giữa sân. Bà không bước tới. Bà đứng đó cho tới khi ông Sáu ngẩng lên, nhìn thấy bà, gật đầu với bà một cái rất chậm. Rồi bà mới đi về phòng.

Chân ông Sáu lành sau hai tháng. Ông ở phòng cạnh ông Bảy, dãy A. Ông đóng lại cho khu mấy cái ghế đẩu, sửa cánh tủ thuốc trong phòng tôi. Có một bữa ông đưa tôi một cái hộp gỗ nhỏ có nắp trượt, mặt trong nắp khắc hai chữ K và N cạnh nhau.

Đêm đầu tiên ông Sáu ngủ ở dãy A, tôi vẫn đặt cuộn băng lên bậu cửa sổ phòng thuốc. Tôi thức tới sáng. Dế kêu suốt đêm. Sáng ra cuộn băng vẫn nằm đó, ướt sương. Những đêm sau cũng vậy.

Ông Sáu sống thêm được hai năm. Tháng Ba năm 2005, một buổi trưa nắng, ông ngủ trưa dưới giàn bông giấy rồi không dậy nữa. Hòa chở quan tài từ Bến Cát lên bằng chiếc xe tải. Người ta chôn ông trên đồi sau khu, dưới hàng cao su, ngay cạnh mộ bà Tư. Trên tấm bia mới, ngày mất ghi tháng Ba năm 2005, không phải tháng Tư năm tám mươi.

Trước khi đóng nắp quan tài, bà Hai Lành nhờ tôi lấy cái gói vải điều trong rương. Bà đặt vào tay ông Sáu mười mấy tờ tiền gấp tam giác còn lại của bà Tư, và cả xấp tiền tôi nhận trên bậu cửa sổ.

"Cho ổng có tiền đi đường," bà nói. "Khỏi phải xin ai."

Bà Hai Lành mất năm 2007. Mộ bà nằm cách mộ vợ chồng ông Sáu hai hàng cao su.

Bây giờ khu điều trị Bàu Sến chỉ còn năm cụ. Dãy C đã dỡ, trên nền cũ người ta trồng cao su non. Điện lưới đã kéo vào tới tận phòng thuốc, cửa sổ kính mờ thay bằng khung nhôm, nhưng cái bậu xi măng thì vẫn vậy.

Tôi vẫn trực ở đây. Tối nào trực, trước khi tắt đèn, tôi vẫn đặt một cuộn băng gạc lên bậu cửa sổ. Tôi không biết để làm gì. Cô Ba Thu đã nghỉ hưu, mấy cô y tá trẻ nhìn tôi làm vậy, cũng không hỏi.

Sáng ra cuộn băng vẫn nằm đó, ướt sương, giấy bọc nhũn.

Chỉ có vài lần, sau những đêm mưa lớn trên rừng cao su, tôi mở cửa sổ ra và thấy cuộn băng đã được ai bóc giấy, quấn lại chặt hơn, mép băng gấp gọn, nhét vào bên trong.