Chương 11: Người sau tấm phên
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tấm phên lồ ô bị đẩy ra từ bên trong. Ánh lửa đỏ hắt ra, chiếu lên đôi ủng dính bùn của tôi.
Một ông già đứng trong khung cửa chòi, một tay vịn cột, một tay cầm khúc củi đang cháy. Ông cao, gầy, lưng gù, tóc bạc cắt ngắn sát da đầu. Ông mặc cái áo bà ba đen đã bạc sang màu xám, vá nhiều chỗ bằng vải khác màu. Một bàn chân ông quấn băng trắng, cuộn băng mười phân của khu, tôi nhận ra cả cách quấn vụng về, chỗ chồng mí dày cộp.
Ông nhìn tôi. Ánh mong đợi trên mặt ông tắt dần, như ngọn đèn bị vặn nhỏ.
"Không phải bả," ông nói, không với ai.
Rồi ông nhìn kỹ hơn, nhìn cái túi xách, cái áo trắng tôi mặc dưới áo mưa.
"Cậu là cậu y sĩ mới. Bà Hai nói."
Tôi gật đầu, không nói được gì. Người đàn ông trong tấm ảnh Tết Nhâm Tý, người cả khu gọi là hồn ma, đang đứng trước mặt tôi, thở ra hơi khói trắng.
Ông nghiêng người, ra hiệu cho tôi vào.
Trong chòi chật, đủ một tấm chiếu, một bếp lửa giữa ba hòn đá, cái lon guigoz đen bóng, mấy món đồ gỗ đẽo dở treo trên vách, mấy cuộn băng của tôi xếp thẳng hàng trên tấm ván.
Tôi nói tôi muốn coi chân ông. Ông ngần ngừ một lúc, rồi ngồi xuống chiếu, duỗi chân ra phía bếp lửa.
Tôi gỡ lớp băng. Dưới gan bàn chân trái là một vết loét cũ, kiểu vết thương tôi đã thay băng cho các cụ dãy A mỗi ngày, ở chỗ chân mất cảm giác, đi đá đi sỏi mà không hay. Vết thương nhiễm trùng, sưng đỏ quanh mép, nhưng sạch. Ai đó đã rửa nó, rất cẩn thận, nhiều lần.
"Tui rửa bằng nước muối," ông nói. "Bả dạy. Hồi xưa bả học lóm mấy cô y tá."
Tôi rửa lại, rắc bột kháng sinh, quấn băng mới. Lúc tôi quấn tới vòng cuối, gấp mép băng nhét gọn vào trong, ông khẽ cười, lần đầu.
"Cậu quấn giống bả. Bả cũng nhét mép vô vậy."
Tôi đưa cái cà mèn cho ông. Ông ăn chậm, từng miếng nhỏ. Tôi ngồi bên bếp lửa nghe ông kể.
Năm tám mươi, ông Bền lên trại. Ông Bền không vô, đứng ngoài hàng rào, quỳ xuống đất đỏ. Hai đứa nhỏ sắp thi lên cấp ba. Lý lịch có cha nằm trại phong thì trường nào nhận, mai mốt ai gả cưới. Ông Bền xin em mình một chuyện: coi như đã chết.
"Tui chịu liền," ông Sáu nói. "Có gì đâu mà không chịu. Tui ở trại mười tám năm rồi, con tui mặt mũi ra sao tui còn không biết."
Đêm đó ông đi vô rừng. Ông treo cái áo lên cành cây bên suối cho người ta tìm thấy. Ông dựng cái chòi này. Chỉ có bà Tư và bà Hai Lành biết.
Bà Tư khỏi bệnh từ năm bảy tư, có giấy cho về Lái Thiêu. Bà không về, vì ông còn ở trại. Rồi ông vô rừng, bà lại càng không về. Cách vài đêm, bà lội suối mang cơm xuống. Băng gạc thì bà mua ở phòng thuốc bằng tiền dành dụm của bà, gấp từng tờ thành hình tam giác cho gọn túi.
"Năm tám lăm, mưa dầm cả tháng, nước suối lên. Tui đã nói bả đừng xuống. Bả không nghe."
Bà về, sốt, nằm mười ngày rồi mất. Ông đứng sau hàng cao su nhìn người ta khiêng bà lên đồi. Ông không dám lại gần.
Sau đó bà Hai Lành đem cơm thay bạn, hồi còn đi được thì xuống tận suối, sau này yếu thì đặt ở gốc cao su gãy. Mùa mưa chòi dột, ông lên trú trong dãy C, ở góc cuối, nhóm bếp nhỏ cho khỏi ai thấy. Mấy năm trước ông Tám Cò thấy ông dưới gốc cao su, về kể là gặp ma ông Sáu.
"Đinh cậu đóng là tui nhổ," ông nói. "Đinh còn tốt, bỏ uổng. Tui gõ thẳng lại cho cậu xài."
Tôi hỏi ông về những đồ chơi bằng gỗ. Ông ngừng ăn. Ông nhìn lên vách chòi, nơi treo mấy con trâu gỗ, con gà gỗ đẽo dở.
"Tui làm cho tụi nhỏ. Hồi bả còn, bả gửi. Bả mất, bà Hai gửi. Năm ngoái bà Hai nói thằng Hòa có con trai rồi." Giọng ông nghẹn lại. "Tui làm cái xe ben. Thằng Hòa lái xe mà."
Tôi nói với ông rằng thằng Bin năm tuổi, đang chơi cái xe đó. Tôi nói tôi đã cầm cái xe đó trên tay, đã thấy chữ K dưới gầm.
Ông không nói gì. Hai vai ông rung lên. Ông cúi đầu xuống cái cà mèn, rất lâu.
Rồi tôi hỏi câu tôi phải hỏi. Những đêm vừa qua, ai đem băng xuống cho ông.
Ông ngẩng lên. Ánh lửa nhảy trong mắt ông.
"Tui tưởng bà Hai nhờ ai. Đêm nào tui cũng ngủ mê, chân nhức, rồi tui ngửi mùi dầu dừa. Sáng ra có cuộn băng ở đầu chiếu, lửa trong bếp nhóm lại rồi. Mấy đêm sau tui mới biết." Ông nhìn ra tấm phên. "Bả về. Bả đi xin thuốc cho tui, như hồi đó."
Ông nói bà Hai Lành có kể với ông, gói tiền của bà Tư bà giữ hai chục tờ. Tháng trước bà mở ra coi, chỉ còn mười mấy tờ. Bà không lấy. Không ai biết cái rương gỗ đó ngoài bà.
Tôi nhớ những tờ tiền gấp tam giác trên bậu cửa sổ. Hai tờ, rồi ba tờ, rồi ba tờ khô cong giữa mưa. Và câu bà nói đêm qua trong phòng thuốc: tui hết tiền rồi.
Ông Sáu bỗng nắm lấy cổ tay tôi.
"Cậu đừng nói ai. Giấy tờ nói tui chết rồi. Tui sống lại thì tụi nhỏ mang tiếng."
Tôi chưa kịp trả lời thì ngọn lửa trong bếp chùng xuống, như có gió lùa vào. Mùi dầu dừa thoảng qua chòi, nhẹ, rồi đi. Ông Sáu buông tay tôi, quay về phía cửa.
"Bả còn đứng ngoài đó không cậu?"
Tôi vén tấm phên. Bên ngoài chỉ có bóng tối, tiếng suối, và ngay trên nền đất trước cửa chòi, cạnh chỗ tôi đặt cái cà mèn lúc nãy, một cuộn băng gạc còn nguyên giấy bọc, khô ráo giữa đất ướt.