☾ Truyện Ma Có Thật
← Kim chỉ sau đêm bom

Chương 12: Cuộn chỉ còn lại

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tháng Hai năm 1973, sau khi ký hiệp định ở Pa-ri được ít lâu, mẹ con tôi về lại ngõ Cây Sấu. Người ta đã dọn xong đống gạch bên kia ngõ. Chỗ dãy nhà cũ thành một khoảng đất trống, cỏ mọc lún phún, trẻ con đá bóng. Ông Bảy lợp lại mái nhà tôi bằng ngói mới, không lấy tiền.

Mẹ kéo cái máy khâu Con Bướm ra cửa sổ, tra dầu, đạp thử. Máy kêu rè rè rồi chạy êm. Mẹ lấy cuộn chỉ lõi gỗ ra, ngâm nước xà phòng, cọ bằng bàn chải. Chỉ thì mẹ tháo ra bỏ đi, quấn chỉ mới vào. Cái lõi gỗ vẫn đen sạm một bên, chữ H vẫn đầy muội, cọ thế nào cũng không sạch. Mẹ để thế mà dùng.

Chị Mận không về nữa. Không tiếng gõ, không mùi khói. Cái tã có chữ K thêu đủ ba nét mẹ giặt sạch, phơi khô, gấp vuông, cất vào hộp bánh quy sắt, cạnh cái ảnh cưới. Sợi chỉ đỏ lúc khô đi vẫn giữ một mùi khét rất nhẹ, phải áp sát mũi mới ngửi thấy.

Tháng Sáu năm ấy, tổ dân phố nhận được một tờ giấy báo tử gửi cho Đỗ Thị Mận, ngõ Cây Sấu. Liệt sĩ Lê Văn Khiêm hy sinh ở mặt trận Quảng Trị từ tháng Chín năm trước. Không có ai nhận. Ông Bảy cầm tờ giấy sang nhà tôi, đặt lên mặt máy khâu, không nói gì.

Mẹ đạp xe về Nam Định tìm mẹ chồng chị Mận. Hai hôm sau mẹ về. Bà cụ mất từ mùa hè, trong một trận bom ở thành phố. Nhà không còn ai. Mẹ thắp hương ở cái nền nhà cũ, xin một nắm đất, mang về để vào hộp bánh quy. Đêm ấy mẹ ngồi bên máy khâu rất khuya, cầm tờ giấy báo tử, nhìn em Khôi ngủ.

Bố tôi về năm 1976, chân trái đi tập tễnh. Bố bế em Khôi, khi ấy đã ba tuổi, tung lên trời, thằng bé cười sằng sặc. Tối ấy tôi nằm gian trong, nghe mẹ nói chuyện với bố dưới bếp, nói đến tận lúc gà gáy. Tôi không nghe được chữ nào, chỉ nghe có lúc bố lặng đi rất lâu.

Sáng hôm sau bố đạp xe về Thanh Oai một mình. Chiều bố về, quần dính đất, mắt đỏ. Bố ngồi xuống bậc cửa, gọi em Khôi lại, sờ vào cái mụn thịt trước tai nó. Rồi bố sờ lên tai mình, cười.

"Bố không có cái này. Thôi, người ta hỏi thì bảo giống ông nội."

Ông nội tôi mất từ trước khi tôi sinh ra. Không ai cãi được.

Em Khôi lớn lên như mọi đứa trẻ trong ngõ. Nó nghịch, lười học, đá bóng vỡ kính nhà cô Thoa mấy lần. Nhưng nó có một cái tật lạ. Từ hồi năm sáu tuổi, nó thích ngồi cạnh máy khâu xem mẹ may. Nó xâu kim nhanh hơn cả tôi. Và lúc nào khâu cái gì, nó cũng thắt ba nút chồng lên nhau. Không ai dạy nó.

Đêm hai mươi sáu tháng Mười Hai năm 1990, em Khôi mười bảy tuổi, sắp thi đại học. Mẹ gọi nó vào gian trong, đưa cho nó cái hộp bánh quy sắt. Tôi ngồi ngoài gian ngoài, cạnh máy khâu. Tôi nghe mẹ kể. Mẹ kể giống hệt như đã kể với tôi dưới bếp nhà bà ngoại, mười tám năm trước, không sai chữ nào.

Trong hộp có cái ảnh cưới, tờ giấy báo tử, nắm đất Nam Định gói trong giấy, cái tã chữ K, và tờ giấy khai sinh ghi ngày mười tháng Giêng.

Em Khôi ngồi đến sáng không nói câu nào. Sáng ra nó đi đâu cả ngày. Tối nó về, giày lấm đất đỏ. Sau này tôi biết nó đi tìm ông Bảy, lúc ấy đã già lắm, nhờ ông dẫn ra nghĩa trang. Cái bảng gỗ ghi tên chị Mận đã mục từ lâu. Ông Bảy đứng giữa một hàng mộ, chỉ vào một chỗ, bảo khoảng ấy.

Em Khôi về, quỳ xuống trước mặt mẹ tôi. Nó không khóc. Nó gọi mẹ, như mọi ngày. Rồi nó xin mẹ cho nó giữ cái tã.

Ông Bảy mất năm 1992. Đám ma ông, em Khôi đội khăn tang như con cháu.

Mẹ tôi mất mùa đông năm 2009, trong căn nhà ở ngõ Cây Sấu đã xây lại bốn tầng. Trước khi đi, mẹ nắm tay tôi, dặn tôi giữ cái cuộn chỉ lõi gỗ. Không dặn gì thêm. Bố tôi đã đi trước mẹ ba năm. Tro của hai người giờ nằm ở Thanh Oai, cạnh gốc bưởi già, cạnh cái hũ sành nhỏ.

Em Khôi giờ đã ngoài năm mươi, làm kỹ sư cầu đường, có một đứa con trai. Thằng bé sinh ra trước tai trái đã có một cái mụn thịt bé như hạt tấm. Năm nào cũng vậy, tối hai mươi sáu tháng Mười Hai, em Khôi đưa con về ngõ Cây Sấu. Hai bố con ra đầu phố dự lễ tưởng niệm, thắp hương ở chỗ dãy nhà cũ, giờ là một cái nhà văn hóa nhỏ.

Tôi vẫn làm thợ may, ngồi đúng chỗ cửa sổ mẹ ngồi ngày trước. Cái máy khâu Con Bướm vẫn chạy. Cuộn chỉ lõi gỗ vẫn nằm trên nóc máy, một bên đen sạm, chữ H vẫn còn muội.

Tối hai mươi sáu hằng năm, sau khi em Khôi đưa con về, tôi quấn chỉ trắng mới vào cái lõi gỗ, cắm một cái kim ngang qua mấy vòng chỉ, gói trong một tờ giấy báo gấp tư. Tôi đặt nó lên bậc cửa, rồi đi ngủ.

Sáng hôm sau tôi mở cửa. Cái gói vẫn nằm đó, chưa ai động vào. Nhưng đầu sợi chỉ bao giờ cũng bị kéo ra một đoạn, thắt một cục nút bé xíu, ba lớp chồng lên nhau. Sợi chỉ hơi ẩm, phảng phất mùi khói.

Có năm tôi nghĩ là sương.