Chương 7: Bát cơm trên bậu cửa
Khoảng 5 phút đọc·5lượt xem
Sang tháng Mười Hai, gió bấc về hẳn. Buổi sáng ruộng muối phủ một lớp sương mỏng, bọn trẻ đến lớp môi tím, tay thọc trong áo bông. Tôi vẫn dạy. Người ta phải dạy, cũng như người ta phải ăn.
Tuần đầu tháng, mẹ cái Nụ đến trường tìm tôi. Chị trạc bốn mươi, làm muối, tay nứt nẻ, đứng ở cửa lớp không chịu vào.
"Cô cho em xin chuyển cháu sang lớp cô Thuỷ."
Tôi hỏi vì sao. Cái Nụ học khá, ngoan, hay giơ tay. Chị nhìn xuống đất.
"Nhà em... ngay sau nhà ông Cần. Hôm giỗ bên ấy nhà em đi biển về muộn, ngó vào sân. Thấy cô đứng ở hiên. Đứng như người nhà bên ấy. Em sợ cho cháu, cô ạ."
Tôi bảo tôi chỉ là người thuê trọ. Chị gật, gật nữa, rồi vẫn xin chuyển. Cô hiệu trưởng ký cho chuyển. Cuối tuần ấy thêm hai đứa nữa xin sang lớp cô Thuỷ, lý do là nhà xa, đi học cùng bạn cho tiện.
* * *
Cô hiệu trưởng gọi tôi lên phòng, pha cho tôi cốc nước chè nóng, hỏi có chuyện gì không. Tôi bảo không. Cô nhìn tôi, rồi kể một việc mà cô bảo cô nghĩ mãi mới quyết định nói.
"Ông Cần đến trường xin cho cô giáo mới về ở từ tám năm trước. Năm nào cũng đến, cứ đầu tháng Tám, trước khi phòng phân người."
Tôi hỏi thế sao tám năm không ai ở.
"Có hai năm phòng phân về thầy giáo. Ông bảo gian ấy không cho con trai ở. Mấy năm còn lại phân về cô giáo nhưng người ta có nhà họ hàng trong xã rồi. Năm nay có cô. Ông ấy đến lúc tôi còn chưa biết tên cô, chỉ mới biết là nữ, quê thành phố, không có họ hàng ở đây."
Cô hiệu trưởng xoay cái cốc trong tay.
"Tôi tưởng ông ấy cẩn thận thôi. Nhà có nhà thờ họ, kiêng đàn ông lạ. Giờ tôi không chắc."
Tôi hỏi cô, hôm ấy bác Cần nói gì khi biết có tôi.
"Ông ấy bảo thế là đến rồi. Rồi về."
* * *
Nhà bác Cần có con chó tên Vện, già, lông bạc cả mõm. Từ hôm tôi về, nó nằm suốt ở bậc hiên nhà thờ, ngang cửa, như một cái then thịt. Nó không sủa tôi bao giờ. Mỗi lần tôi đi qua, nó ngẩng đầu nhìn, rồi gục xuống, thở dài kiểu chó già.
Sáng mười hai tháng Mười Hai, con Vện chết. Nó nằm nguyên chỗ cũ, ngang bậc hiên, nhưng đầu quay vào cửa chứ không quay ra sân. Không vết thương, không sùi bọt, mắt nhắm. Người nó còn ấm lúc bác Cần bế lên.
Bác Cần chôn nó ở góc vườn, dưới gốc cây sung. Bác đứng lấp đất rất lâu, rồi nói, không nhìn tôi.
"Nó giữ được mười hai năm. Thế là giỏi."
Tôi hỏi giữ gì. Bác không trả lời. Bác cắm cái xẻng xuống đất, đi vào nhà, và từ hôm ấy tôi để ý bác không bước qua sân bên phía nhà thờ nữa. Bác đi vòng theo mép sân bên nhà mình.
* * *
Tiếng bên nhà thờ đổi.
Trước đây, mỗi tối tôi đặt bát xuống thì bên ấy có một tiếng đặt theo. Giờ có hai. Tôi đặt bát, cạch. Rồi cạch nữa, nhẹ hơn, cách một chút. Như hai người ăn chung một mâm, người kia ăn chậm hơn, xong sau một miếng.
Tôi không còn kê mâm ở bàn, không còn mở cửa sổ. Tôi ngồi ăn dưới nền, lưng dựa vào tường, mặt quay vào trong. Tôi ăn nhanh, nuốt không nhai, cho xong. Có hôm tôi không nấu, ăn mì gói bẻ khô trong túi, để khỏi dùng bát. Những hôm ấy bên kia vẫn có hai tiếng. Tôi không ăn thì họ vẫn ăn. Hai người.
Đêm tôi nằm nghĩ về con số hai. Trước giỗ là một. Sau giỗ là hai. Giỗ năm nay thêm một bát úp. Tôi xếp ba việc ấy cạnh nhau rồi không dám xếp tiếp.
* * *
Chiều hai mươi tháng Mười Hai tôi đi dạy về muộn vì họp. Trời tối sập từ lúc tan họp, sương xuống dày, đi trong ngõ không thấy bàn chân. Sân nhà bác Cần tối om, điện mất. Nhà trên có ánh đèn dầu, nghe tiếng đài chạy pin nói rè rè.
Tôi đi men theo mép sân về gian nhà ngang. Đến gần, tôi thấy trên bậu cửa sổ gian tôi, ở phía ngoài, có một vật gì tròn, trắng mờ trong sương.
Một bát cơm.
Bát sứ men trắng, loại bát chiết yêu cũ, miệng loe, chân nhỏ. Không phải bát của tôi, không phải bát của bác Nhàn. Cơm xới đầy, có ngọn. Đôi đũa tre đặt ngang miệng bát, so bằng đầu.
Bậu cửa sổ gian tôi quay sang hiên nhà thờ. Bát cơm đặt ở đó thì đúng là đặt trên đường thẳng từ cửa bức bàn sang chỗ tôi ngủ. Giữa hai nơi ấy, trên nền gạch rêu đầy sương, không có một dấu chân nào.
Tôi đứng nhìn bát cơm. Rồi tôi làm một việc mà sau này tôi không giải thích được là vì can đảm hay vì nhớ bà. Tôi đưa tay chạm vào thành bát.
Ấm.
Tôi rụt tay lại. Rồi tôi chạm lần nữa, lâu hơn, cả lòng bàn tay. Thành bát ấm như bát cơm vừa xới ở nồi ra được một lúc, ấm đều, ấm cả chân bát. Trong sương lạnh thế này, bát cơm để ngoài trời mười phút là nguội.
Tôi đứng đó, tay vẫn ấp vào bát, cho đến khi chuông nhà thờ làng bên gõ chiều. Sương dày quá, tiếng chuông đến tai tôi méo đi, chậm và đục, như gõ từ dưới đáy giếng. Tôi đếm được bốn tiếng thì lạc mất.
Bát cơm vẫn ấm. Nó không nguội đi chút nào. Và tôi nhớ lời ông giáo Thịnh, bát cơm cúng cho người đã chết thì nguội nhanh.
Bát cúng cho người còn sống thì nguội chậm, vì hơi còn ở trên bát. Chờ.